Cô Gái Việt

header photo

Thơ: Minh Giang

Nhạc: Quốc Thái

Trình bày: Quang Châu

Xuân Viễn Phương

Thơ: Đỗ Thị Minh Giang

Nhạc: Nguyễn Văn Thơ

Trình bày: Bạch Lan

Tản Mạn Chiều Xuân

Thơ: Thu Hương

Nhạc: Lynh Phương

Tiếng hát: Lý Thu Thảo

Cành Lan Trắng

Thơ: Phạm Thị Minh Hưng

Nhạc: Phạm Chinh Đông

Tiếng hát: Quốc Duy

ĐIỆU VALSE BUỒN

Thơ: Hồng Thúy

Nhạc: Phạm Mạnh Cương

Ca sĩ: Ngọc Mỹ

THƯƠNG VỀ Kỷ NIỆM 001

Thơ: Minh Giang

Ca sĩ: Lý Thu Thảo

Nhạc: Nguyễn Hữu Tân

Tình Mẹ

Thơ: Thu Hương

Nhạc: Mai Hoài Thu

Tiếng hát Lý Thu Thảo

THU VỀ

Thơ: Thu Hương

Nhạc: Mai Hoài Thu

Tiếng hát: Diệu Hiền

Tự Tình Thu

Thơ: Ngọc Quyên 

Nhạc: Ngô Hữu Hùng

Trình bày: Thái Hòa 

Tình Mong Manh

Thơ: Đỗ Dung

Nhạc: Linh Phương

Tiếng hát: Phương Nam

HẠT NẮNG

Thơ: Thu Hương

Nhạc: Mai Hoài Thu

Ca sĩ: Đông Nguyễn

Truyện: Phương Lan

Giọng đọc: Nguyễn Hữu Nhung - Nguyên Hà - Hải Lan

CHỐN XƯA

Thơ: Hồng Thúy

Nhạc: Lâm Kim Cương,

​Ca sĩ:  Ngọc Mỹ

Ngỡ Ngàng

Thơ: Thu Hương

Nhạc: Lynh Phương

Tiếng hát: Đông Nguyễn

Cha Tôi

Thơ: Ngọc Quyên

Nhạc: Nguyễn Hoàng Đô

Trình bày: Nguyễn Hoài Phương

Chuyện Tình Tây Đô

Thơ: Minh Giang

Nhạc: Quốc Thái

Ca sĩ: Diệu Hiền

Vết Thương Trần Gian

Thơ: Ngọc Quyên

Nhạc: Nguyễn Hoàng Đô

Tiếng hát: Quỳnh Dao

Đường Mưa

Thơ: Ngọc Quyên

Nhạc: Ngô Hữu Hùng

Tiếng hát Quỳnh Dao

Truyện của Phương Lan

Kiều Loan & Chân Như diễn đọc

Dại Khờ

Thơ Thu Hương

Nhạc Mai Hoài Thu

Tiếng hát Đông Nguyễn

Theo Gió

Trích trong truyện: Như Một Thoáng Mây Bay

Tác giả: Đỗ Dung

Người đọc: Hải Lan

Nửa Đời Mẹ Cúi Mặt

Thơ: Kiều Mộng Hà

Nhạc: Trần Bảo Như

Tiếng hát: Mê Linh

Mẹ Tôi

Thơ: Ngọc Quyên

Nhạc: Nguyễn Hữu Tân

Tiếng hát: Quỳnh Dao

Tuổi Mùa Thu

Thơ : Đỗ Thị Minh Giang

Nhạc : Nguyễn Hữu Tân

Trình bày: Tâm Thư

Nhạc & lời: Ái Hoa

Tiếng hát: Thanh Hoa

HẸN HÒ MÙA XUÂN

Thơ: Hồng Thúy

Nhạc: Nguyễn Tuấn

Ca sĩ: Tâm Thư

Huế Lỡ Hẹn Mấy Mùa Trăng

Thơ: Trần thị Hà Thân

Phổ nhạc: Nguyễn Hải Hà Lan Phương

Trình bày: Vân Khánh

Ngàn Thu Vĩnh Biệt

Tác giả: Đỗ Dung

Người đọc: Thiên Hương

Hãy Trả Lại Em

Thơ: Ngọc Quyên

Nhạc: Ngô Hữu Hùng

Tiếng hát: Thái Hòa

Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt Karaoke

Tiếng hát Đỗ Dung

HẸN MỘT MÙA XUÂN

Thơ: Đỗ Thị Minh Giang

Nhạc: Nguyễn Văn Thơ

Ca sĩ: Giáng Hương

Qua Lối Cũ

Thơ Phương Lan

Nhạc: Nguyễn Tuấn

Ca sĩ: Diệu Hiền 

Dì Ghẻ

Truyện của Phương Lan

Chiếc Lá Thu Đông

Thơ: Thu Hương

Nhạc: Lynh Phương

Tiếng hát Đông Nguyễn

Cách Xa

Keyboard: Thanh Yến

Guitar: Duy Ngọc

Camera: Na Trần

Thể hiện: Ngọc Huyền Mtl

Cánh Chim Cô Đơn

Thơ : Ngọc Quyên

Nhạc : Nguyễn Hoàng Đô

Tiếng hát: Thu Trang

SÀI GÒN NHỚ

Thơ: Hồng Thúy

Nhạc: Phan Ni Tấn

Tiếng hát: Lâm Dung

CON ĐÒ

Thơ: Thu Hương

Nhạc: Mai Hoài Thu

Ca sĩ: Lý Thu Thảo

Ở Trời Tây Nhớ Trời Đông

Thơ: Kim Tuấn

Nhạc: Ái Hoa

Tiếng hát: Đỗ Quyên

GIỌT MƯA GIỌT SẦU

Thơ: Thu Hương

Nhạc: Mai Hoài Thu

Ca sĩ: Đông Nguyễn

TRĂNG NHỚ

Thơ : Linh Đắc
Nhạc và Hòa âm : Đặng Vương Quân
Ca sĩ trình bày : Tâm Thư

Yêu Anh Em Làm Thơ

Thơ: Ái Hoa

Nhạc: Lê Mộng Nguyên

Ca sĩ: Thùy Dương

Nỗi Nhớ Tàn Thu

Thơ: Ngọc Quyên

Nhạc: Lý Kiên Trung

Tiếng hát: Quỳnh Dao Paris

TUYẾT ĐÔNG

Thơ:Hồng Thúy

Nhạc: QuyDenver

Trình bày: Lâm Dung

THU VỀ

Thơ: Nguyên Tú (TH@Thu Hương) 

Nhạc: Mai Hoài Thu 

Ca sĩ: Diệu Hiền

TANGO TÌNH BIỂN

Thơ: Minh Giang

Nhạc: Quốc Thái

Ca sĩ: Đông Nguyễn

Là Những Điều Bé Nhỏ

Lời: Trần Bảo Như

Nhạc: Nguyên Ca & Trần Bảo Như

Tiếng hát Hoàng Linh

Tình Thu

Thơ: Nguyên Tú (TH@Thu Hương)

Nhạc: Mai Hoài Thu  

Ca sĩ: Diệu Hiền

NỖI LÒNG CHINH PHỤ 5

Thơ: Đỗ Thị Minh Giang

Nhạc: Nguyễn Hữu Tân

Trình bày: Lệ Tuyền và Nguyên Trường

NỖI LÒNG CHINH PHỤ 4

Thơ: Đỗ Thị Minh Giang

Nhạc: Nguyễn Hữu Tân

Trình bày: Lệ Tuyền và Nguyên Trường

NỖI LÒNG CHINH PHỤ 3

Thơ: Đỗ Thị Minh Giang

Nhac: Nguyễn Hữu Tân

Trình bày: Nguyên Trường

NỖI LÒNG CHINH PHỤ 1 & 2

Thơ: Đỗ Thị Minh Giang

Nhac: Nguyễn Hữu Tân

Trình bày: Tốp Ca, Lệ Tuyền

Tình Thiên Thu

Thơ: Phạm Thị Minh Hưng

Nhạc: Benlantrang

Tiếng hát: Lệ Tuyền

Ngày Tôi Trở Lại

Thơ: Hương Giang

Nhạc: Trần Bảo Như

Tiếng hát: Mê Linh

Cánh Diều Xưa

Thơ: Linh Đắc

Nhạc: Trần Bảo Như

Tiếng hát Mê Linh

Mẹ Tôi

Thơ: Ngọc Quyên

Nhạc: Nguyễn Hữu Tân

Trình bày: Ngọc Mỹ

Lục Bát Cho Mình

Thơ : Ngọc Quyên
Nhạc : Nguyễn Hữu Tân
Tiếng hát : Áo Cà Tím

Lỡ Chuyến Đò

Truyện của Phương Lan

Phai Nét Tình Xuân

Thơ Minh Giang

Nhạc: Nguyễn Hữu Tân

Tiếng hát: Ngọc Quỳnh

Như Lá Đìu Hiu

Thơ: Kiều Mộng Hà

Nhạc: Trần Bảo Như

Tiếng hát: Thanh Hằng

Chỉ Còn Lại Nỗi Nhớ

Thơ:Hồng Thúy

Nhạc: Phạm Mạnh Cương

Ca sĩ: Tâm Thư

Giọt Nắng Hồng

Thơ: Linh Đắc

Nhạc: Ái Hoa

Trình bày: Ngọc Giao

Phượng Buồn

Thơ: Phạm Thị Minh Hưng

Nhạc: Nguyễn Hữu Tân

Tiếng hát: Áo Cà Tím

Tôi Vẫn Chờ

Thơ: Tường Thúy 

Nhạc: Nguyễn Tâm Hàn 

Ca sĩ: Diệu Hiền

Chứng Nhân Không Biết Nói

Truyện: Phương Lan

Giọng đọc: Nguyên Hà & Hải Lan

Giòng Sông Ký Ức

Thơ: Vũ Đông Hà

Nhạc: Trần Bảo Như

Ca sĩ: Mê Linh

Điều Chưa Bày Tỏ

Thơ: Tưởng Dung

Nghệ sĩ Hồng Vân diễn ngâm

Khúc Tình Mưa

Thơ: Ngọc Quyên(HTNX)

Nhạc: Ngô Hữu Hùng

Ca sĩ: Thái Hòa

Hãy Cho Em

Thơ: Tường Thúy

Nhạc : Nguyễn Tâm Hàn

Ca sĩ: Diệu Hiền

Mẹ Già

Sáng tác: Ái Hoa

Tiếng hát: Thanh Hoa

Một Thoáng Mây Ngàn

Thơ: Ngọc Quyên

Nhạc: Nguyễn Hà

Trình bày: Ngọc Giao

Nếu Mai Em Vê

Thơ: Hồng Thúy

Nhạc: Trần Thiên Anh

Tiếng hát: Tâm Thư

Dì Thảo

Truyện: Phương Lan

Giọng đọc: Hải Lan & Châu Hiệp

Giọt Tương Tư

Thơ: Đỗ Thị Minh Giang

Nhạc: Nguyễn Hữu Tân

Tiếng ca: Thanh Duyên

Sợi Vấn Vương

Thơ: Phạm Minh Hưng

Nhạc: Nguyễn Hữu Tân

Tiếng hát: Cà Tím

Lấy Chồng Xa

Truyện: Phương Lan

Giọng đọc: Nguyên Hà, Hải Lan, Mộc Lan, Nguyễn Hữu Nhung

Theo Gió

Tự truyện của Đỗ Dung

Tình Già

Truyện: Phương Lan

Giọng đọc: Nguyên Hà, Hải Lan, Kiều Loan, Chân Như

Khúc Dạo Thu

Thơ: Linh Đắc

Nhạc: Trần Bảo Như

Ca sĩ: Kim Tuyến

Hoa Hèn

Thơ: Ái Hoa

Nhạc: Thiên Anh

Ca sĩ: Thùy Dương

Dây Tơ Hồng

Truyện ngắn của Đỗ Dung

Giọng đọc: Hải Lan

Khép Lại Một Cuộc Tình

Truyện: Phương Lan

Giọng đọc: Hải Lan & Châu Hiệp

Tìm Mưa

Thơ: Phạm Thị Minh Hưng

Nhạc: Nhược Thu

Ca sĩ: Trần Lệ

Đợi Mong

Thơ: Phương Lan

Nhạc: Ái Hoa

Ca sĩ: Thùy Dương

Mùa Xuân Gió Cuộn Tóc Thề

Thơ: Kiều Mộng Hà

Nhạc Miên Du Dalat

Ca sĩ: Diệu Hiền & Hoàng Quân

Tiếng Ru

Lời: Kiều Mộng Hà & Trần Bảo Như

Nhạc: Trần Bảo Như

Tiếng hát: Thương Dân

Tháng 3, 2019

 

 

 

Phim “Xuân Hạ Thu Đông… rồi lại Xuân” 

Cách đây 2 tuần, thầy Thích Tánh Tuệ có chuyển đến người viết bài viết  "Phim “Xuân Hạ Thu Đông… rồi lại Xuân” và triết lý Phật giáo sống sao cho hết khổ" của nhà văn Hà Đỗ. 

 Bài viết rất hay có liên quan đến học thuyết Tứ Diệu Dế của nhà Phât tức "4 chân lý màu nhiệm", gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.

 Ngưòi viết kính cảm niệm công đức của Thầy Thích Tánh Tuệ. Người viết xin mời quý thân hữu cùng đọc những đoạn quan trọng của bai viết này vì rất hợp với mùa Xuân sắp đến nơi xứ Mỹ.

“Xuân Hạ Thu Đông - 1 bộ phim như quyển sách bằng ngôn ngữ điện ảnh nhập môn về Phật giáo của đạo diễn tài danh Kim-ki-duk Đại Hàn
Ý nghĩa cuộc đời qua lăng kính Phật giáo Kim Ki-duk, trong một bài phỏng vấn đã chia sẻ: "Tôi bắt đầu bộ phim này với câu hỏi: ‘Ý nghĩa cuộc đời là gì?’ Mỗi người đều cần có cơ hội để tự hỏi mình rằng cuộc đời có ý nghĩa gì, đặc biệt là khi vừa trải qua một giai đoạn đau khổ." Không khó hiểu khi Kim Ki-duk lựa chọn hệ thống giáo lý của đạo Phật để trả lời câu hỏi này, đặc biệt khi ông đã nhắc đến chữ "khổ". Bởi "khổ" là khái niệm cơ bản nhất trong Phật giáo, được thể hiện qua câu nói nổi tiếng: "Đời là bể khổ". Cảnh giới cao nhất trong đạo Phật là Nirvāṇa - thường được dịch là Niết-bàn hay Khổ Diệt, tức là nơi tận diệt cái khổ. Bối cảnh của phim hoàn toàn là thiên nhiên (một ngôi chùa nhỏ giữa lòng hồ, xung quanh là rừng cây và núi đá), với sự can thiệp rất ít và mang tính vãng lai của đời sống hiện đại (thông qua những người khách viếng thăm). Phim cũng rất kiệm thoại; âm thanh được sử dụng chủ yếu là nhạc nhẹ, tiếng tụng kinh và âm thanh tự nhiên. Tất cả kết hợp lại, khiến 105 phút của bộ phim trở thành 105 phút người xem được tạm tách lìa khỏi thực tế và dạo bước vào một thế giới tĩnh lặng đủ để chiêm nghiệm về cuộc đời.

Để đạt tới Niết-bàn, đạo Phật đề ra một học thuyết về "Tứ Diệu Đế", tức "4 chân lý màu nhiệm", gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế. Đây là những khái niệm quan trọng mà chúng ta bắt buộc phải hiểu để có thể nắm được ý nghĩa của bộ phim.

Khổ đế - Nếm trải cái khổ trong Xuân, Hạ, Thu

Khổ đế là chân lý đầu tiên trong Tứ Diệu đế, nói về thực trạng cái khổ. Cái khổ của con người - ở đây đại diện bằng chú tiểu - xuất hiện rõ nhất ở ba lần; trong ba mùa Xuân, Hạ và Thu.

Cái khổ của con người - ở đây đại diện bằng chú tiểu - xuất hiện rõ nhất ở ba lần; trong ba mùa Xuân, Hạ và Thu.

Mùa xuân, chú tiểu nghịch ngợm buộc đá vào ba con vật cá - ếch - rắn và khoái trá chứng kiến sự khổ sở của chúng. Sư phụ nhìn thấy, và để dạy cho đồ đệ một bài học, ông buộc đá vào lưng cậu, bắt đeo hòn đá đó đi tìm cho đủ ba con vật để giải thoát cho chúng. Khi đó ông mới giải thoát cho cậu. Ông cũng nói thêm: "Nhưng nếu bất cứ một con vật nào chết, thì con sẽ mang theo hòn đá này trong tim đến hết cuộc đời." Cậu bé đi tìm và phát hiện con cá và con rắn đã chết. Đau khổ, cậu òa khóc. Đó là cái khổ thứ nhất.

Sang mùa hạ, chú tiểu lúc này đã bước vào tuổi mới lớn. Chùa cũng có một cô gái trạc tuổi cậu đến nương nhờ cửa Phật để chữa bệnh. Chú tiểu và cô gái có tình cảm với nhau, họ đã quan hệ tình dục ngay trong khuôn viên của chùa. Sư phụ phát hiện và yêu cầu cô gái phải rời chùa. Đau khổ, chú tiểu bật khóc. Cuối cùng chú quyết định bỏ chùa ra đi, tìm lại cô gái. Đó là cái khổ thứ hai.

Nếu bất cứ một con vật nào chết, thì con sẽ mang theo hòn đá này trong tim đến hết cuộc đời.

Rồi đến mùa thu, chú tiểu trở về chùa. Lúc này anh đã 30 tuổi. Anh đang chạy trốn khỏi tội giết vợ. "Tội lỗi duy nhất của con là tình yêu. Con chẳng muốn điều gì khác ngoài cô ta. Nhưng cô ta lại chạy theo một người đàn ông khác." - Anh tức giận gào lên với sư phụ. Vô cùng đau khổ, và lần này cảm thấy không chịu đựng được nữa, anh quyết định tự sát bằng cách bịt ba mảnh giấy viết chữ "BẾ" (đóng) vào mắt, mũi và mồm. May nhờ sư phụ phát hiện kịp thời mà anh ta không chết, chỉ nhận được một trận đòn nhừ tử. Đó là cái khổ thứ ba.

Cả ba cái khổ, chung quy lại đều là sự không thỏa mãn trước tình trạng tạm thời của mọi thứ. Chú tiểu buộc đá vào các con vật, những tưởng chúng sẽ cứ thế mà sống, cuối cùng chúng lại chết. Chàng trai muốn ở bên cô gái, những tưởng sẽ là vĩnh viễn, cuối cùng phải lìa xa. Người đàn ông đã có được người đàn bà, những tưởng sẽ là mãi mãi, cuối cùng cũng đánh mất. Cái khổ này cứ nối theo cái khổ kia, liên tiếp chẳng dứt, khiến con người cứ quằn quại mãi trong luân hồi.

Tập đế - Nguyên nhân cái khổ trong Xuân, Hạ, Thu

 "Ham muốn đánh thức khao khát sở hữu, từ đó đánh thức ý định giết hại."

Để giải thích sự không dứt của nỗi khổ, đạo Phật có chân lý thứ hai: Chân lý về sự phát sinh của khổ - Tập đế. Tập đế giải thích nguồn gốc của khổ đau là do Thập nhị nhân duyên - một vòng 12 yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau, đứng đầu là vô minh. Nhân duyên được đề cập qua lời của sư phụ khi nhắc nhở chú tiểu về ham muốn với cô gái: "Ham muốn đánh thức khao khát sở hữu, từ đó đánh thức ý định giết hại." Lời răn này vận đúng vào cuộc đời của chú tiểu sau khi rời chùa.

Cũng chính vì vô minh nên chú tiểu không hiểu được vô ngã, tức là không có một "cái tôi" hay "bản ngã". Không có cái gì là của ta, kể cả cái thân ta. Không có cái gì vĩnh viễn, trường tồn hay thật chất. Tất cả đều do nhân duyên hợp lại mà sinh ra, cũng do nhân duyên tan rã mà mất đi. Chính vì nghĩ rằng mình có "cái tôi" nên mới khao khát sở hữu để thỏa mãn "cái tôi", kết quả là tạo ra nghiệp ác là giết người.Vô minh được cho là nguồn gốc của tất cả. Nói một cách dễ hiểu, người vô minh như đi trong bóng tối, nhìn mọi vật không đúng như bản chất của nó. Chính vì vô minh mà chú tiểu không hiểu được rằng: Tình yêu, cũng như bốn mùa trong đất trời, cũng như tất cả mọi thứ trên đời này, đều là vô thường. Vô thường, tức là không có gì tồn tại mãi mãi, mọi thứ luôn luôn biến chuyển qua các giai đoạn sinh - trụ - dị - diệt. Bởi không hiểu vô thường, nên mới đuổi theo một cái vô thường, mà sinh ra đau khổ.

Thế nhưng cách duy nhất để khổ đau biến mất không phải là giết mình, mà là phải diệt vô minh.

Cuối cùng, vẫn vô minh mà chú tiểu sau này quyết định tự sát để không phải chịu khổ nữa. Thế nhưng cách duy nhất để khổ đau biến mất không phải là giết mình, mà là phải diệt vô minh. Chừng nào còn vô minh thì còn mắc kẹt trong luân hồi, đắm chìm trong bể khổ. Điều này được thể hiện rất rõ qua lời nói của sư phụ: "Giết người thì có thể dễ, nhưng giết mình thì không dễ đâu". Bởi chết đi rồi lại tái sinh, chỉ khi nhập vào Niết-bàn thì mới có thể thoát khỏi luân hồi.

Diệt đế - Chấm dứt cái khổ trong Thu và Đông

Diệt đế là chân lý thứ ba, chân lý về diệt khổ. Muốn chấm dứt khổ đau thì ta phải được ánh sáng trí tuệ chiếu vào, xua tan bóng tối của sự vô minh. Kim Ki-duk đã thể hiện điều này rất rõ ràng qua phần hình ảnh. Đó là phân đoạn quay cảnh người đàn ông khắc bài kinh Bát-nhã lên sàn ngôi chùa, theo vết mực sư phụ viết mẫu, bằng chính con dao gây tội của mình. Anh khắc suốt đêm và lăn ra ngủ một giấc ngủ yên lành dưới ánh mặt trời rực rỡ. Bóng tối tự nhiên, hay bóng tối của sự u mê, đã biến mất dưới sự soi rọi của ánh sáng trí tuệ.

Người đàn ông khắc bài kinh Bát-nhã lên sàn ngôi chùa, theo vết mực sư phụ viết mẫu, bằng chính con dao gây tội của mình
Chính vì vậy, khi tỉnh dậy và nhìn xung quanh, người đàn ông thấy ngôi chùa của mình đang lênh đênh trên hồ. Đến lúc này, anh mới hiểu được cái vô ngã của vạn vật mà bớt khổ.Kinh Bát-nhã là một học thuyết về tính Không, nổi tiếng nhất với câu "Sắc Tức Thị Không – Không Tức Thị Sắc." Theo đó: "Tính Không là bản chất của vạn vật, không có tự ngã, không có tự tính, trống rỗng và tùy thuộc vào nhân duyên."

Tuy nhiên, cái khổ của anh vẫn chưa được tận diệt. Khi hai vị thám tử dẫn giải anh lên thuyền để về thụ án, thuyền không đi được. Phải đến khi sư phụ khoát tay cho đi thì mới có thể đi. Đối chiếu với đoạn đầu phim, ta nhận thấy đây là lúc sư phụ tháo bỏ hòn đá trên lưng chú tiểu ngày nhỏ. Nhưng vẫn còn đó hòn đá trong tim mà chú tiểu sẽ phải mang theo suốt đời, kể từ khi làm nghiệp ác đầu tiên và vướng vào luân hồi.

Kinh Bát-nhã là một học thuyết về tính Không, nổi tiếng nhất với câu "Sắc Tức Thị Không – Không Tức Thị Sắc."

Tiễn người đệ tử ra đi, sư phụ quay vào chùa và chuẩn bị cho cái chết của mình. Ông đẩy thuyền ra giữa hồ, xếp củi lên thuyền; dán chữ "BẾ" vào mắt, mũi, miệng và tai; đặt một ngọn nến dưới đống củi và bắt đầu hành động tự thiêu. Thuyền tượng trưng cho cái thân, đặt trên dòng nước đại diện cho tham ái, hay rộng ra là bể khổ nhân gian. Ngọn lửa là tham - sân - si, khi nó lụi tàn thì mang nghĩa biểu thị trạng thái Niết-bàn.

Tuy nhiên, không phải đến lúc này vị sư phụ mới đạt được trạng thái Niết-bàn. Ông đã đạt được nó từ lâu; hành động tự thiêu chỉ là hình thức thể hiện bên ngoài của nó. Hoàn toàn không phải ông bị lửa tham - sân - si đốt cháy. Bởi đối với bậc cao tăng đã giác ngộ, cái thân, cũng như cái thuyền, tất cả đều không có thật.

Bởi đối với bậc cao tăng đã giác ngộ, cái thân, cũng như cái thuyền, tất cả đều không có thật.

Theo dõi kỹ hơn về cái thuyền và sự liên kết giữa nó với các nhân vật trong phim, chúng ta hiểu về mức độ giác ngộ của từng người. Sư phụ không có cảnh nào cần thuyền để đi lại một mình. Ông chỉ dùng thuyền để đưa đón chúng sinh. Người xuất hiện với chiếc thuyền nhiều nhất là người đồ đệ. Tuy nhiên, sau này khi anh ta thụ án tù xong và trở về, anh cũng không cần thuyền nữa. Chiếc thuyền lại trở thành vật gắn với người đồ đệ của anh ta. Cần thuyền để đi trên hồ, tức là vẫn có chấp ngã. Không cần thuyền, ấy là đã hiểu về vô ngã rồi vậy.

Cần thuyền để đi trên hồ, tức là vẫn có chấp ngã. Không cần thuyền, ấy là đã hiểu về vô ngã rồi vậy.

Về nguyên nhân sư phụ quyết định tự thiêu, chúng ta cần nhìn lại những lần xuất hiện của bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát và liên kết của nó với ông. Rất có thể ông chính là hiện thân của vị Bồ Tát này. Theo giáo lý của Phật giáo Đại thừa, Bồ Tát sẽ nhập Niết-bàn sau khi thực hiện xong hạnh nguyện. Điều này giải thích tại sao sư phụ lại chọn viên tịch ngay sau khi giáo hóa thành công người đệ tử của mình.

Đạo đế - Con đường để chấm dứt cái khổ trong mùa Đông

Đạo đế là chân lý cuối cùng trong Tứ Diệu Đế - chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ - xuất hiện trong duy nhất mùa đông. Lúc này người đồ đệ đã mãn hạn tù và trở về chùa. Không gian xung quanh đã đóng băng hoàn toàn. Ông đến chỗ sư phụ tự thiêu, tìm lại xá-lị của Người, đem gói vào một tấm vải đỏ, tạc một bức tượng Phật bằng băng và nhét tấm vải vào giữa trán để làm con mắt thứ ba - con mắt trí tuệ của Phật.

Chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ - xuất hiện trong duy nhất mùa đông

Ông bắt đầu quá trình tu tập dưới sự giám sát của người sư phụ đã khuất. Một ngày, có người phụ nữ đem con đến chùa rồi bỏ trốn trong đêm, không may sảy chân chết đuối. Nơi chị ta chết đuối, trôi nổi tấm vải đỏ gói xá-lị của sư phụ, đồng nghĩa với việc bức tượng băng đã tan ra. Khi vớt chị, người đàn ông nhìn thấy một (ảo ảnh) bức tượng Quán Thế Âm. Đây chính là lúc ông bắt đầu quá trình tự giác ngộ, không còn dựa vào sư phụ nữa.

Ông mở tủ, cầm một bức tượng Di-lặc Bồ Tát, buộc hòn đá vào sau lưng và leo lên núi. Ông gặp lại ba con vật ngày xưa: con cá bị buộc đá, con ếch bị buộc đá, con rắn bị buộc đá. Tất cả đều còn sống. Ông leo lên đỉnh, đặt bức tượng xuống và ngồi thiền bên cạnh; phóng tầm mắt xuống cả vùng núi rừng rộng lớn, trong đó cái hồ và ngôi chùa của ông hiện lên thật nhỏ bé. Đây là đỉnh cao nhất ông từng đạt được. Những lần trước, tầm mắt của ông chỉ cho thấy cái hồ hoặc một góc của khu rừng. Điều này thể hiện ông đã giác ngộ hoàn toàn, tận diệt vô minh:

"Nhờ trừ hết buông lung, kẻ trí không còn lo sợ gì. Bậc thánh hiền bước lên lầu trí tuệ, nhìn thấy kẻ ngu si còn nhiều lo sợ, như được lên núi cao, cúi nhìn muôn vật trên mặt đất."

(Trích "Kinh Pháp Cú")

Hà Đỗ

Người viết đã vào xem và rất lấy làm ngạc nhiên khi thấy đa số người Đại Hàn theo đạo Tin Lành mà lại có thể thực hiện được một bộ phim Phật Giáo đầy thiền vị như thế!

Hình ảnh trong phim rất đẹp, thanh nhã.  Không có nhiều diễn viên, không có nhiều lời đối thoại, không có những màn đấm đá dữ dội và cũng không có những màn tình tứ nồng nàn. Chỉ có cảnh không gian u tịch, một ngôi chùa giữa một dòng sông mà người viết nghĩ đó là dòng đời nhân thế, một chiếc thuyền nhỏ đưa con người ngược xuôi giữa hai bến bờ giải thoát và phiền não.

Nhân vật chính là một nhà sư già sống cô độc trong một ngôi chùa ở trong một thung lũng hẻo lánh, một chú tiểu con sau lớn lên thành một thanh niên bỏ núí rừng thanh tịnh về chốn phồn hoa sống cuộc đời phàm tục có vợ.  Rồi chàng lại trở thành một kẻ giết vợ, trốn chạy về nơi chùa cũ và bị bắt sau một đêm ngồi khắc bài tâm kinh do sư phụ đã viết.  Sau cùng, chàng trở về chốn cũ tu hành, trở thành sư phụ của một đứa trẻ khác đưọc mẹ đem đến và bỏ lại ở chùa.  Đứa bé này cũng có những hành động y chang sư phụ của mình khi đùa nghịch ác độc với các sinh vật vô tội như cột đá hay bỏ đá vào miệng cá, ếch, rắn và cười thích thú.

Ngôi chùa an tĩnh và khu rừng yên tịnh vẫn còn đấy nhưng cuộc đời con người thay đổi theo năm tháng qua Xuân, Hạ, Thu, Đông.  Con người vẫn còn có một cái Tâm ác độc khi chơi đùa với sinh vật, với con người sống chung quanh mình. Con người vẫn bị cái ái dục và lòng sân hận lôi cuốn vào bể khổ, và cuối cùng rồi cũng biết hồi đầu hướng thiện sau khi thọ lảnh hậu quả những việc mình đã tạo tác theo luật nhân quả.

Kiếp sống con người vẫn lập đi lập lại từ thế hệ này sang thế hệ khác vớì một đời sống nặng nề như tảng đá đeo ở chân của một người muốn đi tìm hạnh phúc và chân lý với ông Phật trong tay như hình ảnh của nhà sư ở đoạn cuối bộ phim. Bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông vẫn tiếp tục quy trình cũ và con người vẫn tiếp tục khổ trong đời sống trần tục thế nhân.

Tóm lại, đây là một phim hay, cảnh đẹp đầy thiền vị và giúp ta có một cái nhìn rõ ràng hơn về luật nhân quả và cái Tâm luôn hướng thiện của con người.  Phim dài 1:43: 17, rất đáng xem theo thiển ý của người viết.

Mời xem youtube

XUÂN HẠ THU ĐÔNG... rồi XUÂN

https://youtu.be/qd5fmFfPM0A

Xin chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé. 

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn 

Sương Lam

(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi- MCTN 456-ORTB 875-31319 )

THƯƠNG EM HOÀI!

(Kính tặng những người vợ lính VNCH.

Trích tuyển tập TRI ƠN CHIẾN SĨ VNCH.)

*

Say men chiến đấu anh đi

Bốn vùng biền biệt, biết gì vuốt ve

Khi về, nạng gỗ cặp kè

Hư thêm một mắt, nhìn ghe ra bè.

 

Thương em mình hạc, xác ve

Nuôi con, kính Mẹ, bạn bè chẳng ai

Tiểu thư khuê các, trang đài

Lạc loài gánh vác oằn vai nhà chồng.

 

Bán buôn, tay dắt, tay bồng

Tấm lòng hiếu thảo mênh mông ấm nồng

Chẳng hề mơ ước viễn vông

Thua em, kém chị, vẫn không than phiền.

Cám ơn em mãi, vợ hiền

Vì anh, vất vả truân chuyên trăm nghìn.

Á Nghi, 18.3.2019 

 

KHOE GÁY

(Trích tuyển tập ẢO DIỆU.)

*

Theo anh xuống phố rong chơi

Hồn thơ trổ nhạc gọi mời mông mênh

Dừng bên phiến đá tâm tình

Anh nhìn bóng lá rung rinh, ngỏ lời…

 

Chao ơi lúa mới sáng ngời

Trả lời? Sao tối như thời lên ba?

Tay chân bỗng hóa rườm rà

Trách anh hỏi chuyện… phiền hà làm sao!

Quen từ hồi nảo, hồi nao

Bây giờ mới hỏi? Ôi chao buộc ràng!

*

Cả ngày hai đứa lang thang

Cuối cùng bướm đẩy, hoa ban: gật đầu!

Á Nghi, 18.3.2019

 

Trăm Năm Chỉ Một Lối Về!

Ta muốn ru đời đến trăm năm
Cớ sao hồn nghẹn chỉ lặng câm
Cớ sao tim vỡ, hơi ngừng thở
Trời đất hóa cuồng, ta mất tăm!

Hóa đá ta buồn ngủ trăm năm
Trăm năm chỉ mộng ước âm thầm
Chờ cơn sấm sét thi nhau nổ
Đánh đá tan đời sống lặng câm.

Trăm năm ai biết lối đi về
Ngõ hẹp cuộc đời lắm kẻ chê
Đường rộng thênh thang, ai bước vội
Kia đời trăm ngã lắm đường mê!

Hỏi gió, trăng, sao có ước thề
Cho mưa nhỏ lệ chứng ai về
Trăm năm có giữ lời son sắt
Hay đã trôi về theo bến mê!

Thôi thế trăm năm, chỉ lối về!!!

Miên Du Đà Lạt

 

ĐI HỌP SAO HÀNH NGƯỜI?

(Trích tuyển tập KÍNH VẠN HOA.)

*

Quần sà lỏn mi khoe

Như bộ đội vỉa hè

Người ta thắt cà vạt

Xấu hổ chỗ nào che?

 

Lại còn mặc áo bông

Bỏ bê bối bềnh bồng

Chân mang dép lẹt xẹt

Họp hành thật khó trông.

 

Tỵ nạn xứ người ta

Họ đã thấy rầy rà

Nhà họ toàn người lạ

Mấy người lịch sự a?

Ý Nga, 16.3.2019

 

KHI EM MUỐN

(Trích tuyển tập HƯỚNG ĐẠO SINH HẢI NGOẠI.)

*

Khi biết cách và quyết tâm làm việc

Em phải làm, cố hết sức thật nhanh

Muốn hoàn thành, vận dụng trí thông minh

Cho mọi chuyện sớm mang về kết quả.

Ý Nga, 16.3.2019

NOI GƯƠNG MẸ MÃI CHƯA TRÒN

(Trích tuyển tập THÌ THẦM.)

*

Ly chè thơm phức đậu quen

Nhớ hương Mẹ nấu, Ba khen: “Ngọt tề!”

Chè nào không ngọt? Lạ ghê!

Tại sao mặt Mẹ đê mê sắc hồng?

Chắc là ám hiệu bềnh bồng

Chỉ Ba, Mẹ biết? (Lớn ngồng mà ngu!)

 

Bây giờ mới hiểu trơn tru

(Bởi vì sáng ấy Mẹ dư lệ trời.

Mâm cơm yên ắng tiếng Người

Chỉ nghe muỗng đũa nhẹ khơi mâm đồng)

*

Tấm lòng biển rộng mênh mông

Mẹ chuyền sức sống vào chồng, nuôi con

Ơn dày mang nặng núi non

Noi theo Mẹ mãi chửa tròn sáng gương.

Á Nghi, 18.3.2019

 

MÁI ẤM

(Trích tuyển tập THƠ TÌNH Á NGHI.)

*

Khung cửa ngọt những nụ hôn đưa đón

Tiễn phu, thê ngày hai buổi đi về

Cùng ủ ê như nghi lễ ước thề

Giàu tình cảm, quanh năm tình nồng thắm

Á Nghi, 18.3.2019

            

SAO MÀ NGẬP NGỪNG?

(Trích tuyển tập TRÔNG MÒN CON MẮT!)

*

- Đáp KHÔNG, không có nghĩa là không có!

 - Nói CÓ, không biết là có hay không?

Không có CÓ hay là không có KHÔNG?

Em thương anh là KHÔNG hay là CÓ?

Á Nghi, 18.3.2019

 

HƯỚNG THIỆN

(Trích tuyển tập LÒNG NHÂN TỪ.)

*

Ghi tâm ơn nghĩa nồng nàn

Đời đời khắc cốt: gian nan đã nhuần.

Thấy người khốn khổ: xả thân

Đền ơn san sẻ, nghĩa nhân của người.

Ý Nga, 16.3.2019       

 

DANH?

(Trích tuyển tập TRẦM TƯ MẶC TƯỞNG.)

*

Xếp hàng dài hăng hái kiếm hư danh

Danh ngắn ngủn chẳng đồng hành vô hạnh

Tánh chân thành, lòng ngay thật ai tranh?

Có đức hạnh, tài năng, ai kiêu hãnh!

Ý Nga, 16.3.2019 

 

THÈM NẮNG VŨNG TÀU

(Trích tuyển tập TỰ NHẮC.)

*

Tuyết rơi từ sáng tới trưa

Tim người lạnh ngắt vẫn chưa nắng về

Rơi…rơi… rơi… trắng não nề

Thương Sài Gòn nắng bên tê, thiếu người!

Nắng chờ, có nhớ ai phơi?

Ý Nga, 16.3.2019            

 

BỆNH!

(Trích tuyển tập LẠC QUAN.

Chia sẻ cùng NY.)

*

Âm thầm biết tỏ cùng ai?

Ra vào suy nghĩ: tương lai ngắn, dài?

Lo âu hốc hác hình hài

Bệnh vừa bớt một! Thêm hai khoe tài?

 

Thuốc xanh, đỏ, trắng… nếm hoài

Biết ai tâm sự, tỏ bày cùng đây?

Người đi nam, bắc, đông, tây

Mấy ai rảnh rỗi buồn lây cùng mình?

 

Xưa nay Thiên định tử, sinh

Ru tâm thiền định, Thiên đình chữa cho!

Ý Nga, 16.3.2019

A Bicoastal Perspective

Six years ago, I was a Californian.  I loved it there where it is eternal springtime. The sky is blue; the sun bright, warm, and welcoming. The twittering birds wake you up in the morning year round. You also mow your lawn and tend to your roses year round. Year round, you go to your lemon tree in the back yard to pick its fruits for lemonade in the summer, to add a zesty taste to your chicken adobo at Thanksgiving gatherings, or to perfect your lemon squares for a Christmas or New Year party. You do not need air conditioning in your home; the unique geography of the San Francisco Bay makes it a natural air conditioner. After a few days of heat, the San Francisco fogs roll in and the temperature drops ten degrees or more. When you plan an event, you can count on it happening. No need to plan a snow day alternate or add a qualifier "weather permitting", because the weather is always permitting.

California is also a melting pot where peoples from all over the world come to call home. Not too long ago the white population became a new minority, while minorities from Mexico, Brazil, Chile, Peru, El Salvador, China, Vietnam, Japan, Korea, India, Pakistan, Afghanistan, Samoa, the Philippines, etc. together became the new majority. Almost thirty years ago, I came to California as a refugee. I thought I would be so lonely and lost. I thought I would stand out as an odd addition to the existing harmony. Contrary to my fears, I found others just like me, yanked out of their old countries thousands of miles away for one reason or another, thrown together in this new land where everyone was just as new as everyone else. The newcomers also include "real Americans", those referred to as WASP (White Anglo-Saxon Protestant), who left family history of hundreds of years somewhere in the East Coast or the Mid West in search of adventure, to do something different, to start life anew. And all of a sudden my homesickness and my loneliness disappeared. Different languages spoken around me harmonize with mine to make it less exotic.  Anything goes in California. No traditions bind you. Nothing holds you back. The sky is the limit. Isn't that a wonderful, powerful, and liberating feeling?

Then all of a sudden, life took an interesting turn. My company moved its operation to Frederick, Maryland. Maryland is as old as California is new. It has four seasons. It has red brick colonials and narrow winding roads that connect old towns, churches, cemeteries, and covered bridges. It has historical sites that mark the fight for independence and the birth of a nation. Its Civil War battlefields bear witness to the crucial pains the young country went through to become what it is today. The demographic make-up of Frederick back in 2005 was 97% white, 1% black, 1% Asian, and 1% others. Talk about culture shock! I hesitantly merged into the new life, once again. Then I was soon charmed by it, completely. The white, powdery snowflakes dotting the universe outside my window turn it into a magical winter wonderland. The cherry blossoms that form an enchanting pink canopy for blocks and blocks in my neighborhood transform it into heaven on earth in springtime. The trees that turn a hundred different colors in the fall tug at my heart by their sheer beauty. The lack of diversity makes people eager to learn about my culture. While I appreciate the liberal social programs in California, I am impressed with the public funding Maryland dedicates to its schools and the quality education my daughter receives. Yes, only California has a place called Little Saigon where, if one chooses to, one can simply shut out the American part of life to speak only Vietnamese, read Vietnamese papers, eat Vietnamese foods, buy Vietnamese groceries, go to Vietnamese doctors, dentists, drycleaners, hairdressers, etc. On the other hand, had I not moved to Maryland, I would not have been able to do the following: chat up with a lobbyist at a neighbor’s gathering, get seasonal tickets to Shakespeare plays, find a Slovak tutor to help my daughter prepare for a year of foreign youth exchange in Slovakia, etc. I heartily grab those unique opportunities the East Coast offers to make my life fuller and richer.

Over the years, I gradually double up on a few things in my life. One is good, but two are better. I adopted the United States as my new country in addition to Vietnam, my old country. I use English in my daily life in addition to my mother tongue. I celebrate two New Years and observe two sets of holidays. Now I suddenly realize that I am not only bilingual and bicultural. I am also bicoastal, loving the liberal West Coast but also embracing the established way of life from the East Coast. Almost every summer we "go home" to California to visit with friends and neighbors who never gave us up yet. At each farewell, my daughter usually became pensive. She said, "Mom, I still feel like California is our home. I am happy going home in the East Coast, but I also feel sad leaving the West Coast." I looked at her tenderly, "Isn't it wonderful that we can call both places home?"

Thuy Messegee

NẰM VÙNG LẤY CÁN NGỐ

(Trích tuyển tập CỘNG NÀO CŨNG ĐỎ.)

*

Điệu đà bà Chảnh làng ta

Lấy ông cán bộ đại gia Bành Bành

Tánh tình ma mãnh nổi danh

Loanh quanh tham nhũng tỉnh thành, tinh ranh.

 

Nhỏng nha nhỏng nhảnh tập tành

Tấm thân bành bạnh họp hành: chằn tinh

Nằm vùng, làng xóm đều khinh

Điển hình cán ngố: rập rình kiếm ăn.

Ý Nga, 9.3.2019

 

VIỆT CỘNG KHEN HÁN CỘNG

(Trích tuyển tập CỘNG NÀO CŨNG ĐỎ.)

*

Nhập nhòa giả, thật vào nhau

Việt gian, Việt Cộng ăn khao ly kỳ

Tung hô Hán Cộng: “Cứu nguy!”

Thi đua chỉ thị: tức thì Hán quy!

 

Một khi giặc trị còn gì?

Mồ xinh, mả đẹp cầu kỳ Bắc Nam?

Hay mồ tập thể, tống giam?

Quê hương Hán hóa: cái am chẳng còn!

Ý Nga, 9.3.2019

 

CON ĐẢNG!

(Trích tuyển tập CỘNG NÀO CŨNG ĐỎ.)

*

Bí Thư, Tỉnh Ủy…” ngồi xơi

Dân đen lao động cả đời nuôi… Heo?

Nuôi ai mà ốm oặt oèo?

Kẻ no rững mỡ, xúm kêu giặc về.

 

Đứa giao Nhà, đứa rủ rê

Đứa chơi bời, đứa mải mê chào mời

Tiếng tăm con đảng chịu chơi?

Mới ra cả Nước tả tơi thế này!

Ý Nga, 9.3.2019

 

NHÌ NHÈO

(Trích tuyển tập CỘNG NÀO CŨNG ĐỎ.)

*

Chọn dốt nát ra la cà cướp của

Cộng về hùa, ngôi chúa tể không thua

Chức bán mua, đem dân tộc ra đùa

Toàn nhớp nhúa đòi làm vua, ai sạch?

 Ý Nga, 9.3.2019

 

NGỌC?

(Trích tuyển tập DẸP CHO RỒI.)

*

Hòn Ngọc Viễn Đông danh lừng đẹp đẽ!

Sài Gòn có từng ngập nước, kẹt xe?

Thành Hồ than hoài biết có ai nghe

Đảng tài như thế mà dân thây kệ?

 Ý Nga, 9.3.2019

 

THÁNG HAI

(Trích tuyển tập TÌNH CƯỜI NÈ ANH.)

*

Hôn em một nụ vội vàng

Anh chờ cái tát phũ phàng, hung hăng

Ai ngờ em rất dịu dàng

Bàn tay âu yếm nhẹ quàng lưng anh.

 

Mùa đông mừng quýnh theo tình

Bao nhiêu tuyết trắng lung linh rạng ngời

Nắng vui hơn Tết em ơi!

Không chi hơn được tuyệt vời tháng Hai!

Á Nghi, 8.3.2019

 

SAY HOÀI MEN YÊU

(Thương về Mình Yêu Dấu.

Trích tuyển tập ẢO DIỆU.)

*

Nồng nàn men rượu về đêm

Mặn mà hơi biển êm đềm tỏa lan

Dường như đứng lại thời gian?

Đê mê vang vọng cung đàn vút cao.

 

Môi anh truyền vị ngọt ngào

Đưa em đến tận nơi nao… nảo… nào?

Tình yêu diễn tả làm sao

Có như sóng biển dạt dào trong tim?

 

Chỉ hồng ai buộc, ai tìm?

Se duyên rõ khéo! Tim kìm nhịp bung!

Á Nghi, 8.3.2019

 

TỘI GÌ EM CỨ KỂ RA?

(Trích tuyển tập MÈ NHEO.)

*

Dù đường vốn dài lê thê,

Dù giày sờn gót, chân chê

Nhưng được nghe em kể… lể…

Cũng xin được đưa em về!

Á Nghi, 8.3.2019

ĐẢNG ĐÃ THEO GIẶC!

(Trích tuyển tập PHẢI DẸP SẠCH VIỆT GIAN!)

*

Hậu trường chính trị Việt Nam

Là tầm ảnh hưởng tham lam Cộng Tàu

Bá quyền xâm lược tiến mau

Ngồi cao lãnh đạo rõ màu Hán nô!

 

Nếu không, ai rước giặc vô,

Ai đem đất bán, cơ đồ ngả nghiêng?

Ý Nga, 9.3.2019

 

TỪ TƯ TƯỞNG THIÊN TẢ

(Trích tuyển tập CỘNG NÀO CŨNG ĐỎ.)

*

Mi chưa hiểu thế nào là nét đẹp

trong văn chương, thì bàn luận chi nhiều?

Thấy dân nghèo mi chẳng chút đăm chiêu,

Nhìn nước yếu, còn đủ điều ca tụng?

 

Dân bất dũng? Ai anh hùng, trung hiếu

Cộng có chi mà học hỏi, so bì?

Chê Cộng Hòa, thích cộng sản, sao đi?

Thật phung phí giấy mực người tư bản!

 

Chữ là đạn, hay bày bàn buôn bán?

Mà lẻo leo lắt léo lộn tùng phèo

Tiền dư nhiều, sách sử thấm bao nhiêu?

Trăm bài viết, bài nào cũng thiên Cộng.

 Ý Nga, 9.3.2019 

  

BẢN DỊCH VĂNG NGUYÊN TÁC

(Trích tuyển tập KINH TẾ VỖ BÉO ĐẢNG.)

*

Những “dịch giả” già dịch non tay ấn

Tiếng xứ người còn lấn cấn loạn ra

Đây thêm râu, kia cắt tóc rầy rà

Dịch dối dá, ý xa, lời bậy bạ!

 

Thương tác giả thiết tha từ tấc dạ

Gửi gấm vào bao triết lý hương hoa

Có hay là “văng” học Cộng lân la

In hối hả, tẩm vị tanh “văng” hóa?

 

Bán khấm khá! Người mua, ai hể hả?

Ý Nga, 9.3.2019

 

ĐỎ RỰC RỠ NHƯNG KHÔNG ĂN RƠ

(Trích tuyển tập CỘNG NÀO CŨNG ĐỎ.)

*

Bán Nước mà mừng rỡ?

Man rợ trò buôn dân!

Đừng rớ vô cộng sản,

Chớ rờ vào Việt gian!

Ý Nga, 9.3.2019

 

MỸ, TRIỀU TẠI VIỆT NAM

(Trích tuyển tập CỘNG NÀO CŨNG ĐỎ.)

*

Những tính toán Mỹ-Triều tại Hà Nội

Đã bày ra với chủ ý sang trang

Thay khủng hoảng hạt nhân bằng rộn ràng

Cả thế giới hân hoan chờ tin hỷ.

 

“Khắp phố cổ, hồ Gươm tràn cờ Mỹ

Từ nhà hàng, quán nhậu đến công viên

Những vỉa hè, quán trà đá… ba miền

Đều bàn tán đầy xôn xao háo hức!

Mọi con mắt đổ dồn vào tin tức”*

 

Nếu Triều Tiên thoát được ách chư hầu

Dân Việt ta có muốn thoát Cộng Tàu,

Lấy lại Đất, vượt “bãi lầy” kinh tế,

Hay giãy chết từ từ trong kiệt quệ?

(Như Triều Tiên, như cộng đảng Cu-Ba)

*

Chuyện mượn Nhà làm lịch sử: người ta!

Ai lật sử, chuyện san hà: chính quốc?

Ý Nga, 9.3.2019

*Thi hóa một đoạn tin tức đã mô tả về cuộc họp Mỹ Triều tại VN.

 

SAO MÀ THƯƠNG!

(Mến tặng hai trưởngThiên Hương & Nguyễn Hưng.

Trích tuyển tập BẮT ĐỀN EM!)

*

Đầm vàng nhạt bên trong “vest” vàng đậm

Em dịu dàng như tiên nữ thiên thai

Anh ngắm hoài chẳng biết nàng là ai?

Đáng yêu quá khăn choàng ba sọc đỏ!

Á Nghi, 8.3.2019

  

VUI

(Trích tuyển tập TRÔNG MÒN CON MẮT!

Thương về Mình Yêu Dấu.)

*

Hôm nay anh về nè!

Nhà sẽ vui lắm nghe

Hoa tha hồ mà nở

Thành phố thôi khóc nhè.

Á Nghi, 8.3.2019

Bạn Cười Lên Nhé

Những ngày đầu Xuân có lẽ bạn sẽ vui lắm khi gặp nụ cười của đức Di Lặc đang vui đùa với các cháu nhỏ xung quanh. Hên lắm đấy vì bạn đã gặp được nụ cười Xuân rồi!

 Tôi thích sưu tầm các bức tượng Di Lặc lớn nhỏ đủ màu, đủ kiểu chưng trong tủ kiếng nho nhỏ của tôi. Mỗi khi tôi gặp điều gì phiền muộn, tôi thường đến ngắm nhìn những nụ cười Di Lặc này, tôi cảm thấy lòng thanh thản trở lại! Thật đấy bạn ạ!

Ở một cấp bậc cao hơn chắc các bạn cũng đã biết sự tích “niêm hoa vi tiếu” của nhà Phật khi Đức Phật cầm cành hoa đưa lên và tôn giả Ma Ha Ca Diếp mỉm cười.

Sách Liên Đăng Hội Yếu, Thích Ca Mâu Ni Phật chương có viết: "Trong cuộc hội ở núi Linh Sơn, Đức Thế Tôn giơ cành hoa ra hiệu cho đại chúng. Mọi người đều im lặng không hiểu ý gì, chỉ có một mình ông Ma Ha Ca Diếp rạng rỡ mỉm cười.

Đức Thế Tôn nói: Ta có Chánh pháp Nhãn tạng, Niết Bàn Diệu Tâm, Thực tướng Vô tướng, Vi diệu Pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trao phó cho Ma Ha Ca Diếp.

Xưa nay Thiền Tông đều coi câu nói ấy của Đức Thế Tôn là quan trọng nhứt của Tông môn. Tông nầy lấy Tâm truyền Tâm làm chỗ dựa để khai ngộ.

Câu chuyện Niêm Hoa Vi tiếu này được xem là hột giống Thiền mà Đức Phật đã gieo vào Phật Giáo lúc Phật còn sinh tiền.

(Nguồn: Tự Điển Cao Đài) 

Người viết cũng biết rằng có nhiều bậc tu hành cao tột, nhiều vị thức giả nghiên cứu sâu rộng về Thiền nên không dám lạm bàn nhiều về những vấn đề cao siêu của tâm linh, tôn giáo vì người viết tài thô trí thiển, hiểu biết nông cạn về những vấn đề này.  Người viết chỉ biết chia sẻ những mẫu chuyện hay lạ, những tin tức hữu ích mà người viết đã sưu tầm, đã đọc được trong sách vỡ, qua các sinh hoạt cộng đồng, tổ chức ở địa phương hay toàn quốc, trên mạng lưới toàn cầu internet, qua điện thư bạn gửi, đến những người bạn cùng tâm cảm với người viết, mỗi khi các bạn dừng chân nơi khu vườn nhỏ bé này.  Hy vọng những chia sẻ nho nhỏ này sẽ giúp các bạn quên đi những phiền muôn trong ngày ở chốn bụi hồng lao xao này trong một ít phút giây, bạn nhỉ?  Xin cám ơn quý độc giả đã cảm thông với người viết, đã thương yêu khích lệ người viết trong việc đi tìm một niềm vui trong ngày cho bạn, cho tôi.

 Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu nụ cười ra sao qua các tài liệu do người viết sưu tầm được trên internet đem về đây chia sẻ với các bạn nhé.

Trước nhất hãy nghe Bác sĩ Nguyễn Ý Đức bàn luận về Cười.

“Cười là một động tác bẩm sinh, xuất hiện ở bất cứ em bé nào sanh ra được dăm tuần lễ, dù các em tật nguyền khiếm khuyết thính thị. Bé mới sanh 10 ngày tới sáu tháng chưa biết nhột mà cảm thấy khó chịu khi ta cù vào chân; sau tuổi đó, khi cù thì bé lại lăn ra ngủ vì không biết cách đối phó; mãi tới bốn tuổi bé mới biết nhột cười khi ta cù gãi vào chân.
Nói chung, để được gọi là cười, phải có sự phối hợp của ba yếu tố: hơi thở thoát khỏi miệng từng hồi đứt đoạn; tiếng động do không khí chạm vào thanh quản và sự co giựt của bắp thịt trên mặt. Các bắp thịt này rất nhỏ, ngắn nhưng tương ứng với nhau: một cơ chuyển động thì các cơ khác cũng phụ họa theo. Cười bắt đầu ở cửa miệng với sự nhếch mép làm chuyển động lan xuống khí quản, dây thanh âm, các bắp thịt ở bụng, hoành cách mô, phổi. Hơi thở thoát ra rồn rập và nếu kéo dài có thể đưa tới hụt hơi, ngộp thở.

Trên mặt có 15 cặp bắp thịt tham dự vào việc cười, trong khi đó thì có tới 72 bắp thịt cần được vận dụng để nhăn nhó, khó chịu. Y lý và võ thuật Đông Phương cho là có cả trăm huyệt cười trên cơ thể, với ba huyệt chính: một nằm ở gan bàn chân, huyệt đại tiếu ở nách và huyệt kinh môn ở lưng.
Tùy theo các bắp thịt co mà ta có những nụ cười khác nhau: nụ cười nửa miệng, cười miếng chi, chúm chím; cười duyên, cười tình, cười con mắt có đuôi; cười rúc rích với nhau như mấy bé gái nói vụng về mấy cậu trai; cười khì, cười hề hề thành thật vì vui không hậu ý, vô thưởng vô phạt; cười khoái trá, cười giòn tạo không khí vui vẻ, sung sướng; cười hóm hỉnh ranh mãnh nhìn vào mắt kẻ đối thoại như muốn tỏ rằng mình đã biết cái bí ẩn của họ; cười xòa, cười huề bỏ qua mọi căng thẳng cho xuôi việc; cười ngoại giao, cầu tài nịnh, cười lỏn lẻn, dã lã để được việc; cười mát chế riễu, cười khẩy coi thường, cười nhạt không bằng lòng, cười quỷ quyệt ngọt ngào nhưng đầy âm mưu xấu; cười tới chảy nước mắt, vãi đái và đau cả bụng.

Và công dụng của Cười ra sao?
Đã có nhiều quan sát, nghiên cứu thực nghiệm về công dụng của nụ cười với sức khỏe.
Theo bác sĩ thần kinh tâm trí William Fry, chuyên viên về hài hước và sức khỏe, thì đã có những chứng minh khoa học là sự cười đùa thích thú kích thích đa số các hệ thống sinh lý trong cơ thể. Một cơn cười rung bụng làm tim đập mau hơn, máu lưu thông dễ dàng hơn, các bắp thịt vận động co duỗi tốt hơn. Nó giống như một sự vận động và sau trận cười ta cảm thấy thư giãn thoải mái. Cười ngăn cơn suy tim bằng cách làm tâm thần thoải mái, nhẹ nhàng, tan biến buồn rầu, tức giận, giảm ứ đọng máu lưu thông tránh tai biến não, làm giảm khó chịu vì nan bệnh ung thư.”

(Nguồn: Trích trong bài viết Cười của BS Nguyễn Ý Đức)

Một người bạn gửi đến người viết bài thơ dưới đây. Tôi đọc thấy hay hay, xin mời quý thân thân hữu cùng đọc cho vui nhé

NGÀY HÔM NAY BẠN ĐÃ CƯỜI CHƯA? 

Cả khi mơ mộng 
Vẫn biết mỉm cười 
Đó là hạnh phúc 

Những lúc mỏi mệt 
Vẫn biết mỉm cười 
Đó là an nhiên 

Dù chịu thiệt thòi 
Vẫn biết mỉm cười 
Đó là khoan dung 

Dù có uẩn khuất 
Vẫn biết mỉm cười 
Đó là rộng lượng 

Dù đang bế tắc 
Lạc quan mỉm cười 
Đó là bản lĩnh 

Dù bị hiểu lầm 
Thanh thản mỉm cười 
Đúng người tu dưỡng 

Gặp lúc hiểm nguy 
Điềm tĩnh mỉm cười 
Khí chất ai bì 

Lúc bị khinh khi 
Yên lặng mỉm cười 
Hiểu mình hiểu đạo 

Khi bị thất tình 
Nhẹ nhàng mỉm cười 
Đó là tự tại.

(Nguồn: Email bạn gửi)

Ngày hôm qua, Thầy Thích Tánh Tuệ cũng chuyển chia sẻ tiếp bài sưu tầm của một đạo hữu gửi đến Thầy, nêu 27 lý do khiến chúng ta cần phải cười mỗi ngày.  Xin được chia sẻ tiếp đến quý bạn nhé. 

Kính cảm tạ công đức Thầy Thích Tánh Tuệ.   

27 LÝ DO KHIẾN CHÚNG TA PHẢI CƯỜI MỖI NGÀY

Tiếng cười là hạnh phúc, cười làm toàn thân được nhẹ nhàng thanh tịnh, cười là khoảng cách ngắn nhất giữa hai tâm hồn, cười tạo điều kiện cho ánh sáng nội tâm thể hiện, cười giúp ta trở về với chính mình. Cười mím, cười nụ, cười ra tiếng làm khuôn mặt chúng ta dễ mến hơn… Cười có nhiều lợi ích cho ta về sức khỏe, tinh thần và cảm xúc tâm linh.

    1- Cười là một thần dược trị được cả bệnh thể xác lẫn bệnh tâm hồn.

    2- Cười làm cho ta cởi mở bao dung và có một tinh thần lạc quan yêu đời.

    3- Cười làm tăng hồng huyết cầu và lá lách hoạt động tích cực hơn.
    4- Cười làm tăng sinh lực, khiến ta vui vẻ lanh lợi và thêmlòng yêu thương.
    5 -Cười làm cánh cửa cảm thông rộng mở thật dễ dàng với mọi người.
    6- Cười mím, cười nụ, cười ra tiếng làm khuôn mặt chúng ta dễ mến hơn.
    7- Cười làm thư giãn các bắp thịt trên mặt, tan biến những căng thẳng.
    8- Cười làm toàn thân được nhẹ nhàng thanh tịnh, thư thái và an lạc.
    9- Cười giúp ta tránh được tâm trạng cay đắng khổ đau, phản ứng kịp thời.
    10- Cười giúp cho tâm hồn lành mạnh và thêm khả năng sáng tạo mọi việc.
    11- Cười nhiều giúp ta biết tự kỷ có trách nhiệm và thực tế hơn.
    12- Cười nhiều tránh được buồn nản, dễ thành công vì tiếng cười là trí tuệ.
    13- Cười là khoảng cách ngắn nhất giữa hai tâm hồn, là biết nghệ thuật sống.
    14- Cười dễ vui theo cái vui của người khác, hoan hỉ như mình thành đạt vậy.
    15- Cười có thể làm tan đi nỗi bực mình, buồn phiền của người đối diện.
    16- Cười giúp ta vui sống hiện tại, quên hết quá khứ và lolắng về tương lai.
    17- Cười giúp ta trở về với chính mình, tức là thực sự trở về đời sống mới.
    18- Cười có nhiều lợi ích cho ta về sức khỏe, tinh thần và cảm xúc tâm linh.
    19- Cười giúp hồn nhiên tươi sáng, có nhiều khả năngchống lại bệnh tật.
    20- Cười giúp các tế bào loại T trong máu tăng lên, có sức đề kháng mạnh.
    21- Cười làm giảm phong thấp, các khớp xương đỡ bị sưng và chống sưng.
    22- Cười làm giảm các chất hóc-môn (cortisone) trongthận, sẽ sống khỏe hơn.
    23- Cười tránh được nhức đầu, đau tim, cao huyết áp và mỡ trong máu.
    24- Cười giúp tống khứ các khí dơ, thêm nhiều dưỡng khí cho bộ não thông minh.
    25- Cười làm tăng máu, chống viêm khớp, làm con người luôn tỉnh táo.
 
   26- Cười tạo điều kiện cho ánh sáng nội tâm thể hiện, thấu suốt mọi sự vật.
   27- Cười giúp những nét phiền muộn tan biến, gương mặt trở nên tươi trẻ ra.

   Mỗi ngày phải cười ít nhứt 3-lần… 

Cưới có nhiều lợi ích như thế, tại sao chúng ta không cười nhỉ?  

Xin chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé.

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Sương Lam

(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi- MCTN 455-ORTB 874-3619)

 

Tỉnh Mộng

Từ hôm thất nghiệp nằm nhà đến nay, ông đi ra di vào rồi thở dài thườn thượt. Chưa bao giờ thời gian nó dài như bây giờ, vậy mà nhiều người già cứ bảo nhau rằng “quỹ thời gian ngắn lại dần, phải tận hưởng đi kẻo muộn.”

Ấy, đi làm tuy vất vả vậy nhưng được cái có đồng ra đồng vào, cày nhiều hưởng nhiều cày ít hưởng ít, nhưng lật bật thời khắc qua mau. Sáng, cứ đến giờ là dậy, hôm nào đồng hồ quên báo thức thì cũng bật dậy như cái máy, hệ sinh học trong một con nguời cũng trở nên thói quen như sáng thì phải uống cà phê, bỏ không uống nó lại buồn ngủ suốt ngày lơ láo không làm được việc gì nên thân. Chiều về nhà thì mặt trời sắp đi ngủ, ăn xong xem TV một lát ông cứ ngáp ngắn ngáp dài. Bây giờ ở nhà, cũng chẳng ngủ thêm được giấc nào, dậy sớm ngồi đó buồn tay buồn chân, buồn cả tim gan phèo phổi.

Đó là tại chưa quen, chưa chuẩn bị cho mình cái kiểu “retire” non mà sinh ra thế, chứ lâu rồi thì cái gì cũng thành nếp. Phải làm cái gì chứ! Thằng bạn cố tri thời đi học khoái viết lách lai rai, tặng cho vài tác phẩm mà đâu có giờ đọc, bây giờ mới nghĩ ra cái chuyện bồi bổ tinh thần, thể thao thể dục cái đầu cho nó khỏi oải ra rồi không nhớ gì hết thì chí nguy. Anh ta là một nhà văn, nên được khối người biết, hắn viết được mấy cuốn sách, hễ cuốn nào vừa in xong còn nóng hổi mùi mực in là đã gửi tới, với lời dặn dò đọc xong rồi cho ý kiến. Khổ thay, có bao giờ đọc được trọn vẹn một cuốn sách đâu, truyện ngắn thì may ra chứ truyện dài thì đầu hàng vô điều kiện. Đọc một ít trang đầu mắt đã díp lại, ngủ gà ngủ gật, nắm bắt một ít nhân vật xong thì vội lật đến chương cuối xem kết thúc thế nào, có những kết cuộc lấp lửng đọc chẳng hiểu gì, có cái “happy ending” châu về hiệp phố, có những chia ly tan tành xin đành “hẹn lại kiếp sau”.

Rầu nhất là sau đó tác giả thân ái mấy lần hỏi ý kiến ý củng thì ôi thôi, lúc ấy mới ngớ ra chưa nhớ được tên cuả nhân vật. Thôi đành phải lục lọi vài câu vô thưởng vô phạt, khen ngợi chung chung là truyện rất cảm động, đầy tính thuyết phục mà lại rất gần gũi với mọi người. Hì hì, cái này lại nhớ đến những tay thấy bói ăn tiền ngon ơ các bà nhẹ dạ hay đi tìm thầy để hỏi chuyện tào lao tương lai quá khứ. Tâm lý cả thôi, ai mà chả thích được thầy bói khen vài câu đại loại như thế này:
“Ông là bậc hiền nhân quân tử, sống có trước có sau, thấy chuyện bất bình thích ra tay nghĩa hiệp (trúng quá đi chứ lỵ!) Bà là người hiền hậu đảm đang, tính tình rộng rãi hay giúp đỡ kẻ sa cơ lỡ vận, dễ tha thứ cho người khác (cái này sai, thầy nói dóc nhưng bà cũng nhận tuốt).”

Thằng con út vưà tốt nghiệp Đại Học, gặp đận kinh tế xuống đi “apply” mãi cũng chưa tìm ra việc, thấy bố âu sầu vì thất nghiệp nên “đồng bệnh tương lân”, bèn tặng bố cái PC cũ để mầy mò cho vui, hướng dẫn cách lập một địa chỉ email để liên lạc với bạn bè, xem và đọc báo giải sầu cũng như cập nhật tin tức thế giới, từ quê nhà đến quê người. Ái chà, từ ngày có cái computer thì ông bỗng dưng thấy tâm hồn hình như hồi sinh trở lại, sau này đến giai đoạn làm thơ thẩn và tìm được người trong mộng thì hình như lại còn hồi xuân nữa ấy chứ! Khi đã biết gõ chữ Việt rồi thì ông nghĩ ngay đến chuyện viết văn, nhất là hồi ký đang thịnh hành ở cái tuổi thập thò bước vào “tri thiên mệnh” hay qua tuổi “lục thập nhi nhĩ thuận” như ông hiện tại. Ý nghĩ ấy vưà nảy ra trong đầu sao đã thấy xôn xao, nghĩ đến một ngày … ai cũng biết ông cũng là một nhà thơ, nhà văn như ai chứ bộ!!!

Trước tiên ông làm thơ, vì thơ thẩn chỉ cần ra sau nhà ngắm trời mây non nước, để nhớ lung tung là thành thơ:

“Có những buổi chiều như nhớ ai
Đường xa vời vợi núi sông dài
Một nửa trời hoen màu mực tím
Một nửa trời buồn như mắt nai”
(thơ NN)

Lắm khi cám cảnh cuộc đời, nhân tình thế thái, nghĩ cái thân bèo bọt như nước chảy huê trôi, ông cũng nhờ thơ mà tâm sự:

“Ta thấy bóng mình in đáy nước
Hồn ma bóng quế lạc đâu về
Gợn sóng phù du tan biến cả
Cuộc đời ảo ảnh tựa cơn mê...
(thơ NN)

Làm thơ nhanh chứ không mất công suy nghĩ mông lung nhiều quá như viết văn, truyện đọc dễ như ăn kẹo coi vậy mà nghĩ hoài chữ nghiã nhất định nằm ì trong đầu không gõ được lên máy. Kinh nghiệm viết văn ban đầu thường không phải là chuyện tưởng tượng ra mà viết được, nhất là với những người chuyên lao động tay chân với máy móc kỹ thuật như ông, khó tìm ra đề tài để viết ngoài chuyện viết hồi ký. Eo ơi! Cái này lại còn chết ngay chứ không ngáp ngáp, vì một ông bạn của ông cũng đã gần tan cửa nát nhà vì cái chuyện thích làm “dzăn sĩ” này lắm, bởi cái cơ quan kiểm duyệt bộ thông tin “nằm chung một giường, ăn chung một niêu” đã chặt nguồn cảm hứng từ khi câu chuyện còn đang dở dang, chưa kịp trình làng cho bà con làng nước xem để cùng “hoài niệm dĩ vãng” chung với mình.

Thời gian qua mau, khi thơ cuả ông được một tờ báo ở địa phương đăng thường xuyên vì tay chủ bút nể tình là bạn cùng thời, từ đấy ông đã có lý do để giựt le với bà xã, bà cũng hãnh diện lây khi có dịp đi đâu với ông ra ngoài, gặp mấy ông bạn văn nghệ của chồng, khi giới thiệu họ chỉ rặt gọi ông là thi sĩ. Tưởng gì chứ nếu không quần quật với lũ cháu, lúc thúc trong bếp với nồi niêu xoong chảo thì phen này bà cũng nhất quyết làm thơ để được gọi là “nữ sĩ”. Mà cũng hay lắm cơ, từ ngày có cái còm-biu-tơ, lại trở thành nhà thơ thì bà thấy ông cũng dễ chịu hẳn đi, người ta bảo không có gì hay bằng lấy cái vui mà trám vào cái buồn, nó hoá giải tuốt luốt những điều lăng nhăng trong đời sống để “thân tâm an lạc”.

Rồi cũng từ thơ thẩn mà ông tìm được một niềm vui khác, cái vui này vui bằng mười cái kia, ông dấu kỹ như mèo dấu (…), không khoe ra cho vợ biết, bởi vì nó là niềm vui do Thơ mà có, nếu bà biết nó trám vào cái buồn kia thì ông hết đường thơ thẩn. Không hiểu ma đưa lối qủy đưa đường sao đó mà trong những người đọc thơ ông, lại có một bóng hồng rất nên thơ tuốt bên kia bờ đại dương ái mộ. Nàng tìm được địa chỉ email của thi sĩ rồi viết thư làm quen, nói lên sự đồng cảm cuả nàng về thế giới mơ màng lắm tơ vương, khiến ông sung sướng không thể tưởng được, do đó nguồn thơ lại càng lai láng, từ nay ngẫu nhiên ông đã có người trong mộng để làm thơ. Trong thi tập đầu tay, ông cũng bắt chước các thi sĩ khác, “luôn tri ơn và riêng tặng hiền nội, cùng các con yêu dấu”, hi hi hi, bi nhiêu chữ là đủ ăn tiền rồi, mà bà cũng dễ tin chả để ý đến thơ thẩn bao nhiêu, nếu chịu đọc kỹ từng bài thơ thì sẽ thấy ông làm thơ “cho ải cho ai” chứ có phải cho bà đâu mà vội tưởng …bở.

Trường hợp này ông cũng có đề phòng, nếu như ai đó có tật mách lẻo hay dòm ngó vào đời tư đời riêng cuả các thi sĩ, ông sẽ lấy bốn câu thơ chứng minh sự thành thật của mình cho bà xem:
“Thơ chính là Em, Em là thơ
Lẽ sống đời anh tự bao giờ
Gió, trăng, mây, nước, tình hư ảo
Tình lẫn vào Thơ chẳng bến bờ”.
(thơ NN)

Hà hà, thi sĩ hơn người thường là ở chỗ đó, càng ngày ông thấy mình càng yêu đời hơn, chủ trương thơ theo trường phái lãng mạn, vì chính trị thì nặng nề mà nàng thì đang ở quê nhà chẳng nên gieo rắc những chuyện rối rắm cho đời mất vui. Tay bạn thân tới nhà rủ ông đi biểu tình chống bọn Trung Quốc xâm lăng lãnh hải và lãnh thổ Việt Nam, ông cũng gạt ngay đi lấy cớ rằng đang bận, với lại chống chiếc làm gì cho mất tình anh em quốc tế “môi hở răng lạnh” bấy lâu nay, huống gì nó chuyên “lấy thịt đè người” thì khác nào “châu chấu đá xe” mà chống. Ôi buồn thay cho đất nước dân tộc có những hạng người hèn nhát như vậy, chống đã không dám chống lại còn bảo người khác đừng chống, nếu Lý thường Kiệt mà sống lại thế nào cũng nện cho ông vài hèo quắn đít về tội khiếp nhược, gập cả đầu xuống để bợ đỡ thằng hàng xóm to đầu chuyên đi ăn hiếp láng giềng, rồi bắt ông đọc hằng trăm lần bài hịch:

“Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

Để tránh những rắc rối có thế gặp phải với người yêu thơ bên trời quê hương, ông liền “phịa” là mình đang ở miền Đông Bắc, hai muà Thu Đông nối tiếp nhau nên lúc nào trời cũng lạnh và đời chỉ là một màu mây xám buồn như Thơ. Bởi vậy mới có chuyện buồn cười vì khí hậu ở đây vừa bước vào đầu hè là nóng thấy mồ tổ, trong khi ông đang làm thơ tả cảnh “tuyết bay trắng cả trời thương nhớ, ra vào quanh quẩn nhớ thương ai”, thì bà ở ngoài càm ràm cái máy lạnh hư mà không chịu gọi thợ đến sửa, suốt ngày cứ chúi đầu vào thơ với thẩn. Ông lấy câu châm ngôn “im lặng là dzàng”, làm thinh đóng chặt cửa để sáng tác cho người thơ bên kia đọc, chẳng rỗi hơi đấu khấu với bà.

Rồi từ đó thơ cứ vì thế mà thơ thẩn, thẩn thơ, thờ thẫn, chỉ “ếch-xơ-xai” cái đầu mà quên tiệt chuyện sáng tập thở, chiều tập đi cho cơ thể khoẻ mạnh. Người thơ bên ấy lại muốn tìm hiểu luôn về quá khứ, tình cảm, đời sống cuả nhà thơ, nên ông phải tìm một nguyên nhân phù hợp nhất với tuổi tác ở cái tuổi mặt chẳng búng ra sữa, tóc đã hai mùa thu đông mà chả lẽ lại còn độc thân lẻ bóng. Chuyện này không khó, cứ bịa là gia đình tan vỡ vì vợ chồng không hợp nhau, (mà hình như không hợp thật!), đời sống vật chất ổn định nhưng vẫn cô đơn vì không người chia xẻ. Phải có thêm tấm hình gửi về cho nàng thấy chân dung sầu đông cuả ông nữa mới đủ bộ, nên hôm ông bạn nhà giàu tới thăm, lái chiếc BMW láng coóng thì ông vội bảo thằng con lấy cái “digital camera” chụp cho bố vài “bô” làm kỷ niệm. Thằng con ngô nghê hỏi:

- Sao “Daddy” không chụp hình với cái Toyota nhà mình, bộ sợ người ta chê xe cũ hả?

Ông mỉm cười bảo con:

- Cứ cho bố mấy tấm đèm đẹp một chút, gửi vể Việt Nam lòe thiên hạ chơi, có mất gì đâu mà sợ.

Úi chời! Một lát khi hình hiện lên “desktop”, ông cũng ngẩn người ra mà ngắm mình không chán mắt, các cụ nói “người tốt vì lụa, luá tốt nhờ phân” có sai bao giờ, bên cạnh cái xe BMW đời mới trông mặt ông cũng toả sáng lên như đèn 100 Watt. Mà cũng tại thế này, người đẹp bên kia vẫn hay ỡm ờ dò hỏi đến chuyện đô la, xăng nhớt với lại kinh tế toàn cầu, rồi nhân thể than thở về cuộc sống hiện tại, ông cũng mấy lần lén vợ gửi về cho nàng chút quà nhỏ gọi là chia sẻ nỗi khó khăn.

Rồi cũng kín đáo gửi tấm hình, kèm theo lá thư kể cho nàng nghe ông mới tậu chiếc BMW để có phương tiện sinh hoạt với bạn bè. Sự thật thì “Em yêu dấu cuả anh”, bên trời quê hương làm sao hiểu được cái cảnh ở bên này, nhiều tay buổi sáng “take a bus” xong lại phải bắt cái “metro”, còn “walking” tướt khói một quãng nữa mới tới được sở làm, vì thành phố đất chật người đông, không có đủ “Parking” cho người ta đậu xe, muốn đậu thì phải trả tiền, mà đậu bậy thì xe bị… kéo.

Giá như, ừ nhỉ giá như cuộc đời cứ êm êm trôi đi như dòng nước chảy, thì ông đã có cơ hội “về với quê hương” để gặp người trong mộng rồi. Thế mà (thở dài vài hơi cho đỡ buồn), đời như ảo mộng mà lắm khi cũng là ác mộng, cho đến một hôm cái còm-biu-tơ bị virus do mấy thằng tin tặc tấn công thì ông mới biết thế nào là ảo mộng. Bao nhiêu thứ nâng niu cất giữ trong đó đều mất hết như một thoáng mây bay, cả hình ảnh nàng cũng chìm vào trong bóng tối của cái màn hình đen kịt, tự nhiên ông thấy thiêu thiếu cái gì đó mà sống thì hình như chết mà biết… thở.

Nhưng chuyện ấy thì thằng con khi đi chơi xa về có thể giúp bố phục hồi lại được, còn một chuyện quan trọng hơn là bấy lâu nay, ông cả ngày chúi đầu vào đấy mà quên chuyện thể dục thể thao cho cái thân già, nên bây giờ bao nhiêu thứ bệnh nó mới ào ạt chạy ra tấn công. Ông chống đỡ lại cả hai mất mát một lúc, y chang vị tổng thống trẻ nước cờ Hoa khi mới lên ngôi đã cuống quýt la làng vì kinh tế suy thoái trong nước, chưa kể mấy chỗ chiến tranh xa xôi chưa giải quyết xong, còn thêm mấy thằng khủng bố thèm lên thiên đàng bằng con đường tử đạo, thằng đàn em ủn ỉn nghèo ở xa nằm vạ định “dây máu ăn phần” nữa chứ!

Hai cái buồn một lúc ào ạt đổ vào, giờ này lại dư thì giờ để nghiền ngẫm cái buồn nên bịnh ông hoá thành nặng thật. Đi đứng lảo đảo, mắt mờ, đầu choáng váng, vì ngồi hoài một chỗ cẳng chân lại sưng to lên như hoa chuối hột, khiến ông hơi lo lo vì các cụ lang ta thường bảo “đàn ông sưng chân, đàn bà sưng mặt, ba bảy hăm mốt ngày ra nằm với giun”, chẳng lẽ mình cũng sắp “xí lắc léo” rồi sao?! Trạng thái suy thoái tâm lý khiến bịnh càng nặng hơn, ông bỏ ăn thiếu ngủ, tim đập rầm rầm như trống ngũ liên, đi một tý đã thấy mệt, tự nhiên người nó “oải” ra không đứng lên được, khi ấy chỉ có “mẹ thằng cu” ở trong nhà quýnh quáng gọi “emergency” đưa ông đi nhà thương, hò hét con cái xa gần về lo cho bố. Khi thoát nạn ông mới tỉnh ra và nghĩ đến câu viết ở trang đầu thi phẩm đầu tay, trong lúc này cần phải viết hoa: “Luôn Tri Ơn Hiền Nội Cùng Các Con Yêu Dấu” là trúng nhất.

Nằm vắt tay lên trán, ông cảm thấy có chút ray rứt trong lòng. Cuộc đời có trải qua những lúc như lúc này, ngẫm nghĩ lại mình có nhiều hạnh phúc mà không biết hưởng, cứ mơ màng hạnh phúc ở đâu đâu. Ngày xưa hồi đeo đuổi nhau bà cũng thuộc loại “giai nhân”, mắt biếc môi hồng, bây giờ theo thời gian môi mắt mới nhợt nhạt ra thế, nhưng mấy ai nấu ăn ngon bằng bà, mấy ai chịu chăm sóc cửa nhà, chăn dắt con rồi lại đến đời cháu như bà đâu. Nghĩ lại, ông mới thấy mình có nhiều thiếu sót với người bạn đời, chưa thể hiện những điều tử tế trong nhà thì mong gì tử tế với ai. Nhất định phen này sau khi hết ốm, ông sẽ mượn vài vần thơ đẹp của một thi sĩ để cảm ơn bà xã:

“Cảm ơn em ấm vần thơ
Nửa em ghép với bóng mờ nửa tôi
Thế là đũa lại thành đôi
Gắp cay đắng trộn ngọt bùi ngon cơm.
(thơ Trầm Vân)

Nguyên Nhung

CHÀO THÁNG BA

(Cảm tác từ “Hello March” Trần Trọng Nhân post March 1- 2019)

 

Tôi nói lời tạm biệt tháng Hai,

Gió cuối mùa đông còn ở đây,

Tôi thèm hơi ấm khăn áo mới,

Thèm thấy nắng về tháng Ba ơi.

 

Chào tháng Ba trên xa lộ dài,

Trên cánh đồng sau giấc ngủ say,

Thức dậy đón một mùa hoa dại

Rực rỡ cho dù mộng chóng phai.

 

Chào tháng Ba trên đường phố quen,

Hoa đào hoa lê sáng mù sương,

Tháng Ba bỗng đẹp như huyền thoại,

Chẳng ở đâu xa, chuyện đời thường.

 

Tôi nói lời thương chào tháng Ba,

Không tiếc một tháng vừa đi qua,

Tháng Ba quen mà lòng vẫn lạ,

Mây gió quen mà lòng như chưa.

 

Tôi đã đi qua mấy nhịp cầu,

Đời người qua mấy nhịp nông sâu,

Sông ơi cứ chảy về phía trước,

Tôi chẳng quay tìm quá khứ đâu.

 

Không biết sông nào đến cội nguồn,

Không biết khi nào ta sẽ ngừng,

Từng khoảnh khắc đường đời vơi cạn,

Người hãy tìm nhau một bến thương.

 

Hôm nay tôi chào đón tháng Ba,

Thế giới ngoài kia hay trong nhà,

Hãy vui hưởng những gì đang có,

Tháng Ba gần rồi sẽ đi xa.

 

Tôi đồng hành với thời gian trôi,

Cho dù ấm lạnh của cuộc đời,

Cho dù cuộc sống này ngắn ngủi,

Tôi vẫn mơ góc biển chân trời.

 Nguyễn Thị Thanh Dương

 (March 02, 2019)

 

HƯNG

(Trích tuyển tập ANH ƠI!)

*

“Nhân hòa vạn sự hưng”

Mình hòa, vui quá chừng,

Sân si cùng nhau bứng,

Vứt bỏ! Tình sáng trưng!

 

Nhìn lên chẳng bằng ai

Nhưng mình đã đường dài

Nhà dẫu thay mấy mái

Vẫn cùng sức, chung vai!

Á Nghi, 3.3.2019

 

THƯƠNG!

(Thương về Mình Yêu Dấu.)

*

Lần đầu nhắp rượu chung bôi

Thương màu e thẹn, em tôi ửng hồng

Á Nghi, 3.3.2019

 

NHỚ NHAU

(Trích tuyển tập TRÔNG MÒN CON MẮT!)

*

Ngắm mây trổ sắc, thay màu

Tả sao cho rõ nhớ nhau ráng chiều?

Á Nghi, 3.3.2019

 

NÀNG XUÂN LỘNG LẪY

Sắc Xuân bừng dậy khắp muôn nhà

Hân hoan nở rộ đủ màu hoa

Tiết trời mát mẻ hương thanh khiết

Kìa đóa Hải Đường đỏ thiết tha...

 

Hoa lá nồng nàn đón Chúa Xuân

Lòng người rộn rã biết bao lần

Em nhỏ vui mừng khoe áo mới

Trời xanh vang vọng tiếng ca ngân...


Lộng lẫy Nàng Xuân dáng kiêu sa

Mai vàng Cúc đỏ, tím hoa cà

Lá xanh mơn mởn cành non lụa

Hồng cánh Đào phai mỏng mượt mà.


Nắng mới đầu Xuân nắng lụa là

Cành Lan e ấp nụ kề hoa

Hương thơm ngào ngạt nồng sương sớm

Đỏ cành lửa lựu, trái la đà...


Bầy chim sáo nhỏ rủ rê nhau

Ríu rít hót vang trên cành cao 

Mừng đón Xuân đang về khắp lối

Khúc nhạc Mừng Xuân sao ngọt ngào....

Phạm Thị Minh-Hưng

 

GỌI TÊN BỐN MÙA

Hãy gọi tên nhau cả bốn mùa

Nhé anh tình mãi đẹp như mơ

Xuân về hoa bướm trên cành biếc

Bâng khuâng chim hót gió đong đưa!

 

Hè về Phượng đỏ nở cành cao

Tiếng ve rộn rã Hạ đón chào 

Nhớ quá một thời vui trường lớp

Tìm nhau tơi tả tình xanh xao!


Rồi thu hiu hắt lá phai màu

Mắt em sầu nhớ ngóng về đâu

Tình vẫn ngọt ngào mùa lá rụng

Dệt vần thơ, âu yếm gởi trao...


Chẳng sợ mùa đông tuyết lạnh rơi 

Tình ta vẫn ấm áp ơi người!

Nhặt hoa tuyết đổ vui ngày mới

Bốn mùa tình mãi đẹp chơi vơi!

Phạm Thị Minh-Hưng

 

MƯA

(Trích tuyển tập TÌNH SẦU.)

*

Mưa buồn như em khóc

Lá ướt sủng tim anh.

Cỏ sầu như mi mắt

Người anh thương chân thành.

Á Nghi, 3.3.2019

 

HƯƠNG ĐỒNG NỘI

(Thương về Mình Yêu Dấu.)

*

Trong em cứ nhớ những chiều

Lang thang hai đứa, vui nhiều bên hoa

Vườn ai thơm ngát, mượt mà

Hay tình mình tỏa hương ra đất trời?

 

Hương thơm diệu vợi nơi nơi,

Bay theo thơ nhạc gọi mời hoài thôi.

Hương đang tỏa chỗ em ngồi,

Nhắc bao sông, suối, núi, đồi… rong chơi.

*

Thương hương đồng nội anh ơi!

Anh mau mau nhé! Cộng rơi mình về.

Á Nghi, 3.3.2019