Tháng Tám, 2026
NGÔI NHÀ MỚI
Hai anh Mễ to khoẻ, lực lưỡng mang tất cả đồ đạc vào nhà. Họ kê bộ bàn ghế, giường tủ, rồi lãnh tiền công và ra về. Còn một đống những thùng lớn, thùng nhỏ, hai vợ chồng phải mở ra sắp xếp lại suốt từ buổi trưa đến buổi chiều mới gọi là tạm xong. Chị biết sẽ còn nhiều món đồ đạc lạc chỗ, dần dần khi cuộc sống tại căn nhà mới này bắt đầu thì mọi đồ dùng mới đâu vào đó.
Công việc moving vất vả quá, dù anh chị đã vứt bỏ khá nhiều đồ lặt vặt và thuê người làm hầu hết.
Tưởng sẽ được ngả lưng nằm lên giường một lúc cho đỡ mệt, thì đến lượt hai đứa con:
— Mẹ ơi, con đói!
— Mẹ ơi, con muốn uống sữa!
— Để cho mẹ nằm nghỉ một tí được không?
Tabi vùng vằng:
— Không! Con muốn ăn ngay bây giờ.
— Con cũng muốn uống sữa ngay bây giờ. Betsy bắt chước chị, nhõng nhẽo và vùng vằng.
Bây giờ chị mới biết là mình cũng đang đói. Tủ lạnh không còn gì bên trong để dễ dàng moving. Buổi sáng, cả nhà chỉ ăn qua loa, định dọn nhà xong thì chiều đi nhà hàng ăn cho thảnh thơi, bây giờ vợ chồng chị mệt quá rồi, không còn hào hứng nghĩ đến chuyện ấy nữa. Anh ý kiến:
— Em nấu mấy tô mì gói ăn đỡ đi.
— Nhưng em không biết hiện giờ thùng mì gói nằm nơi đâu? Để em order pizza cho nhanh.
Chị ngồi dậy, thì cùng lúc chuông cửa reo. Tabi mừng rỡ:
— Họ mang pizza đến hả mẹ?
— Mẹ đã gọi phone đâu mà có pizza!
Con bé Tabi cụt hứng, nhìn mẹ nó đầu bù tóc rối đang lê bước ra mở cửa. Chị ngạc nhiên khi thấy một bà Mỹ ăn mặc lịch sự, tay ôm bó hoa tươi thắm và miệng bà cũng cười tươi như hoa:
— Welcome gia đình chị đã đến đây. Tôi là Rita, hàng xóm của chị ở căn nhà đối diện bên kia đường
— Cám ơn bà !
Chị bối rối đỡ bó hoa, vì lần đầu tiên ra mắt hàng xóm trong tư thế không chuẩn bị, chắc chắn chị bơ phờ, nhếch nhác, tóc chưa kịp chải, áo quần chưa kịp chỉnh tề. Mà tại sao bà hàng xóm nhanh nhẩu đến thế chứ? Người ta mới dọn nhà đến buổi sáng, chiều đã welcome rồi. Ngày dài tháng rộng, chị vẫn còn đây, chứ có biến đi mất đâu mà phải vội vàng?
Bà Rita chưa chịu về cho, còn tiếp tục bày tỏ sự thân thiện khi nhìn thấy Tabi và Betsy đang đứng xớ rớ bên cạnh mẹ nó, bà tự giới thiệu:
— Gia đình tôi có 4 người, hai vợ chồng và hai đứa con, chắc cùng lứa tuổi hai con chị. Hi vọng các cháu sẽ là bạn thân với nhau.
— Vâng, tôi cũng mong muốn thế. Chị đáp cho xong chuyện.
Bà Rita chào ra về, chị ôm bó hoa, ngẩn ngơ suy nghĩ cái bình cắm hoa đang thất lạc nơi đâu? Đang lúc bụng đói này, giá mà bà ấy mang đến hộp pizza thì hợp lý hơn.
Chị giải quyết mau lẹ, mang bó hoa vào trong bếp, để trong một chậu nước cho tươi rồi mai tính. Hoa tươi, hoa đẹp cũng chẳng làm chị vui khi đang mệt rã rời và bụng thì đói quay đói quắt.
Nhưng chị chưa kịp cầm phone để order pizza thì chuông cửa lại reo. Hay bà Rita lại dẫn cả chồng con sang giới thiệu cho đủ hộ khẩu nhà bà?
Cánh cửa bất đắc dĩ mở ra, không phải bà Rita, mà là một bà Mỹ lạ hoắc khác, trên tay bà bưng một đĩa to đầy bánh cookie thơm phức, chắc là mới vừa làm xong:
— Chào chị! Tôi là Cindy, rất hân hạnh được là hàng xóm của gia đình chị. Chúng tôi ở căn nhà bên cạnh, phía bên trái.
Chị đỡ lấy món quà của bà hàng xóm thứ hai, và như một cái máy chị nói:
— Cám ơn bà đã cho bánh cookie.
— Ôi! Hai đứa bé gái của chị mới dễ thương làm sao! Chúng như hai thiên thần hiện ra trong mùa lễ Giáng Sinh
Bà Cindy kiểu cách và ngọt ngào lấy lòng người hàng xóm mới.
— Cám ơn bà đã khen hai cháu. Cái máy trong người chị lại tự động phát ra, chứ chị chẳng còn tâm hồn nào mà nói những lời bay bướm cho tương xứng với bà Cindy.
— Nào, cháu tên là gì? Cháu mấy tuổi rồi? Bà Cindy cúi xuống dịu dàng hỏi Tabi.
— Cháu tên Tabi, cháu 5 tuổi. Con bé lí nhí trả lời với người lạ.
Bà hỏi chuyện từng đứa thì bao giờ mới xong? Chị sốt cả ruột, liền giới thiệu luôn:
— Con em nó là Betsy, 4 tuổi. Kia là chồng tôi, còn tôi tên là Bông. Nhà tôi có bốn người.
— Ôi! Gia đình chị đẹp như một bức tranh, thật sống động trong ngôi nhà này.
Chị nhìn bà hàng xóm với đầy vẻ nghi ngờ. Nhan sắc hai vợ chồng chị thuộc loại bình thường, hai đứa con cũng thế. Hơn nữa cả ngày hôm nay hai vợ chồng chị mệt muốn chết, quần áo, tóc tai chẳng ra hồn, hai đứa con cũng đang nhăn nhó vì đói bụng, vậy mà bà hàng xóm dám khen toàn bộ gia đình chị đẹp!
Chị vừa trả lời vừa mắc cở vì lời khen khách sáo ấy:
— Cám ơn bà!
Bà Cindy còn hỏi thăm thêm vài câu xã giao bóng bẩy nữa mới chịu ra về.
Anh hối hả giục chị:
— Em order pizza ngay đi, biết đâu bà hàng xóm thứ ba, phía bên phải, sắp sửa đến nhà mình? Thì đến đêm mình cũng chưa có gì để ăn.
— Sao hàng xóm ở đây họ tử tế thế? Làm em ngại quá!
— Khu trung lưu lịch sự có khác, người ta lịch sự như những ngôi nhà xinh đẹp của họ vậy.
Món quà của bà hàng xóm thứ hai hữu ích hơn bà thứ nhất, đĩa bánh cookie vèo một cái đã hết nhẵn, làm cả nhà dịu cơn đói trong khi chờ đợi pizza đến.
Chị lại nằm ra giường, trong khi bên ngoài, anh vẫn loay hoay thu xếp đồ đạc. Thật sung sướng khi mệt mỏi rã rời được ngả lưng trên giường, máy lạnh mát dịu làm chị liu riu buồn ngủ. Tiếng chuông cửa reo làm chị giật nẩy mình, hay là bà hàng xóm thứ ba đến welcome gia đình chị? Có bà hàng xóm đối diện, bà bên trái, thì còn bà bên phải nữa. Rút kinh nghiệm, chị vuốt lại mái tóc, mất vài phút thay áo quần, sửa soạn sẵn nụ cười, ít ra cũng có một bà hàng xóm nhìn thấy hình ảnh chị tươm tất, đàng hoàng.
Thì ra là anh giao pizza, làm uổng công chị, chị giận lây không thèm cười khi anh ta nói cám ơn và chào về.
Chị lấy bánh cho hai con ăn và dỗ dành:
— Nhịn uống sữa con nhé. Mai mẹ đi mua, hôm nay dọn nhà, mẹ mệt lắm rồi.
Ngôi nhà mới là giấc mơ của chị, to đẹp, nằm trong một khu lịch sự, đắt giá, bên cạnh một hồ nước thiên nhiên rộng và dài tít tắp. Bên này hồ là phía sân sau của những ngôi nhà, bên kia hồ là cánh rừng thưa. Khác hẳn với căn nhà cũ, nơi mà thuở hai vợ chồng chị mới lấy nhau, hai bàn tay trắng bắt đầu gây dựng cơ ngơi, chỉ mong có một căn nhà dù nhỏ, dù cũ kỹ là đủ vui rồi.
Căn nhà cũ nằm đối diện với một khu apartment, hai bên nhà là hai gia đình Mỹ đen. Cái địa thế mà nếu chỉ là người qua đường nhìn vào, chắc ai cũng “ớn”, cũng hình dung ra bao nhiêu chuyện tai ương, rắc rối. Vậy mà anh chị đã ở đó gần 10 năm trời. Chị đã quen với những hình ảnh đám Mễ ở apartment bên kia đường, mỗi weekend mở nhạc ầm ĩ. Những người đàn ông Mễ đội mũ, đi giày ủng cao, áo bỏ vào quần với dây thắt lưng to bản, trông họ như những anh chàng công tử rảnh việc, ngồi ngoài sân uống bia suông, hay đôi khi vừa uống vừa nướng thịt BBQ, mùi khói thơm bay ngào ngạt trong gió, bay sang cả nhà chị. Tiếng nói cười, tiếng nhạc Mễ tưng bừng làm hàng xóm vui lây.
Bên này chị cũng không thua kém, thỉnh thoảng mang nồi mang chảo ra sân chiên chả giò, chiên cá, kho mắm… Chắc chắn những mùi vị đặc sản của Việt Nam ấy cũng từng bay nhởn nhơ sang sân những nhà hàng xóm không cùng chủng tộc, màu da.
Chị cũng đã quen gia đình Mỹ đen ở bên cạnh. Hai vợ chồng đều to con, to giọng, mỗi khi họ đứng ngoài sân nói chuyện, chị ở trong nhà, qua lớp cửa đóng kín vẫn còn nghe. Đến nỗi có lần chị tưởng họ đang cãi nhau, mở cửa ra xem mới biết là vợ chồng họ đang trò chuyện vui vẻ.
Biết đâu dưới mắt những người Mễ, người Mỹ đen kia, nhìn gia đình chị, một gia đình di dân đến từ châu Á xa xôi nghèo nàn ở bên kia bờ Thái Bình Dương sang Mỹ lập nghiệp; đang sống trong ngôi nhà cũ kỹ thật đáng thương. Mỗi cảnh đời đều có những vất vả lo toan, nhưng chắc chắn họ không hề biết rằng chị đang toan tính chuyện ra đi, một ngày nào đó, chị sẽ rời khỏi căn nhà cũ này, khu dân cư xập xệ này, đến một nơi sang đẹp hơn rất nhiều.
Ngôi nhà cũ vừa trả hết nợ, anh chị bán đi, lấy tiền “down” cho căn nhà mới và…nợ tiếp.
Hôm sau người hàng xóm thứ ba đến, đúng như điều anh chị đã nghĩ − người ở ngay bên cạnh nhà chị, phía bên phải, mang đĩa bánh cake làm quà và những lời hỏi thăm nồng nhiệt. Y như hai bà trước, làm như gia đình chị là niềm ao ước của cư dân khu này, càng làm chị ngại ngùng áy náy.
Chị vốn nghi ngờ sự lịch sự của người Mỹ từ lâu, với những người xa lạ −lại là người khác chủng tộc, thì lịch sự, tử tế chỉ là xã giao, là hình thức bên ngoài, ít khi là chân thật tự đáy lòng. Gặp bất cứ người lạ nào ngoài đường phố, họ cũng mỉm cười chào hỏi, nhưng người được chào hỏi chưa kịp quay đi, đã thấy người Mỹ lịch sự tử tế ấy khép ngay nụ cười và mặt lạnh như tiền.
Người hàng xóm thứ ba đưa cho vợ chồng chị một tờ giấy có ghi đủ tên và số điện thoại của mọi gia đình trong khu vực, cộng thêm gia đình chị. Khi cần thì liên lạc với nhau, đồng thời họ mời chị tối thứ bảy tuần sau đến họp mặt ở nhà bà Cynthia, để thắt chặt thêm tình hàng xóm láng giềng giữa cánh đàn bà với nhau.
Gia đình chị ngập tràn niềm vui trong ngôi nhà mới. Cảnh hồ phía sau nên thơ như tranh vẽ. Chiều, chị mở cửa sổ bếp cho gió ngoài hồ thốc vào mang theo mùi hoa lá trong vườn; gió thổi bay bay tấm màn vải mỏng che cửa sổ căng lên trông như cánh buồm nhỏ. Chị đứng làm bếp mà có thể nghe tiếng chim kêu ríu rít lúc trời chiều khi chúng bay qua hồ về phía cánh rừng bên kia.
Chị thủ thỉ với anh giá mà em biết làm thơ, thì mỗi ngày cứ ra ngắm hồ nước, ngắm cánh rừng là đủ cảm hứng.
Anh dọn đến ngôi nhà mới này vì chị, anh thích sự bình yên tâm hồn hơn là bề ngoài, thích ở căn nhà cũ, không nợ nần đồng nào; nhưng vợ anh nay cằn nhằn, mai than thở muốn có một căn nhà mới, sang đẹp hơn, thì anh lại tìm niềm vui trong sự thanh thản khác, là nhìn thấy vợ vui và khỏi phải nghe những lời cằn nhằn nữa.
Thế là đã được một tuần ở nhà mới. Buổi tối, chị đến nhà bà Cynthia để họp mặt, bà Cynthia ân cần giới thiệu chị là hàng xóm mới với tất cả mọi người, toàn là quý bà trong khu, là hàng xóm với nhau.
Họ thắp nến, ăn bánh cookie và nói đủ thứ chuyện về gia đình, xã hội, kể cả những chuyện vặt, đùa vui, nghĩa là đủ thứ chuyện quanh ta.
Tiếng Anh của chị chỉ đủ dùng thông thường lấy đâu mà hiểu hết những ý kiến sâu sắc hay hóm hỉnh của quý bà, nên chị ngồi im và lạc lõng giữa đám phụ nữ sang cả này. Phải chi đó là bà Tư, bà Bảy, hay bác Tám nào đó, toàn là các bà người Việt Nam, thì chẳng đời nào chị chịu thua; chưa biết chừng chị còn làm đầu tàu dẫn dắt câu chuyện và tán dóc cho tới khuya, hào hứng không kém gì họ.
Thỉnh thoảng chị cúi đầu, che dấu cái ngáp vì chán nản đến buồn ngủ. Rồi buổi họp mặt cũng tàn, chị sung sướng như vừa được… phóng thích ra khỏi trại tù.
Ở nhà, anh cũng sốt ruột không kém, được ngày thứ bảy mà phải trông hai con; lúc thì chúng chạy đuổi nhau rầm rầm quanh nhà; lúc thì dành nhau đồ chơi và cãi nhau. Anh hết dỗ dành đứa này đến năn nỉ đứa kia; xong chúng đòi ăn, đòi uống, và “hành hạ” anh không thương tiếc:
— Bố nướng pizza không ngon bằng mẹ. Bố phải nướng lại cho con.
— Mẹ cho con uống sữa bằng cái ly màu hồng mà? Bố phải đổi cái ly này thì con mới uống sữa cơ.
Anh bực mình gắt lên:
— Vậy thì đợi mẹ về mà đòi.
May quá, chị đã về tới, anh chưa kịp than nỗi vất vả của mình thì chị đã than trước:
— Ngồi mỏi cả lưng mà chẳng hiểu họ nói gì, cả đám bật cười ồ vì một câu nói đùa, trong khi em vẫn còn ngơ ngác và suy đoán mãi…. mới cười.
— Ai bảo em nhận lời, làm khổ lây cả anh, vì phải ở nhà hầu hai con ranh này.
— Tại em cả nể vì mấy món quà tặng của họ; họ lịch sự, mình cũng nên tỏ ra biết điều để hòa đồng với hàng xóm.
— Thì ra ở khu nhà giàu không thoải mái bằng khu bình dân; họ kiểu cách quá, cứ đáp lễ qua lại cũng đủ mệt. Thế bao giờ em mới làm chả giò để tặng lại các bà hàng xóm đã welcome nhà mình bằng hoa và bánh?
— Anh không nhắc thì em cũng không nhớ, để mai em làm vậy.
Chị ngao ngán nghĩ tới cái màn đứng cuốn mấy bịch chả giò, rồi đem ra ngoài sân chiên từ từ cho vàng đều. Ôi chao! Lại mất nửa buổi.
Sáng chủ nhật, anh ra sân cắt cỏ, thấy mấy ông bà chạy bộ trên đường; họ mặc áo thun và quần short, chân đi giày, vớ, tất cả một màu trắng tinh; cứ như những vận động viên đang khởi động cho một cuộc đua quan trọng nào đó.
Người nào chạy qua sân nhà anh đều giơ tay chào hỏi, khiến anh cũng phải giơ một tay lên chào, còn tay kia kềm chặt tay vịn cho máy cắt cỏ vẫn nổ ròn rã. Nếu cả khu xóm đều rủ nhau chạy thể dục ngày hôm nay thì chắc chắn anh không thể nào hoàn tất việc cắt cỏ như ý muốn, vì cứ phải liên tục giơ tay chào và mỉm cười đáp lễ với hàng xóm láng giềng.
Mỗi buổi sáng lái xe ra khỏi nhà để đi làm cũng vậy, trước khi “thoát” ra khỏi khu dân cư lịch sự sang trọng này, anh phải giơ tay chào đến mấy lần với những người hàng xóm tử tế anh gặp trên đường.
Khi anh hòa vào dòng xe cộ tấp nập trên phố, giữa đám đông không phải là hàng xóm, anh thật sự thấy thoải mái, thảnh thơi.
Chiều đi làm về, những người hàng xóm tử tế lại “ám ảnh” anh, hễ cứ thò mặt ra cửa thì thể nào cũng có ai đó đi qua và dừng chân lại chào hỏi. Anh không dám ra ngoài thường xuyên, anh mất cái quyền tự do được đứng ngắm sân cỏ xanh mà anh đã có công cắt xén. Chỉ có buổi tối may ra anh mới thấy thoải mái đứng ngoài sân; giờ này, ai ở trong nhà nấy, con đường trước nhà anh vắng tanh, im lìm. Anh chợt rùng mình, nếu như anh chẳng may bị trúng gió, ngã lăn ra đường thì cũng chẳng có người hàng xóm tử tế nào hay biết.
Anh so sánh với bên quê nhà, nghèo mà vui; những người Việt Nam chân tình, thắm thiết với hàng xóm láng giềng, với cả người không quen biết. Giữa đường, giữa chợ, ai đó bị trúng gió, bị bệnh bất ngờ, là có ngay các bà xúm vào cạo gió; lo âu, xót xa như với người thân của mình; những chai dầu gió có sẵn từ bao giờ trong túi, trong giỏ xách của các bà.
Hay họ săn sóc, đỡ đần khi hàng xóm có ma chay, cưới hỏi, v.v. Sự thân mật tự nhiên và thoải mái biết bao.
Còn ở Mỹ, trong khu lịch sự này, họ ra đường chào hỏi tử tế thế, thân mật thế, nhưng không có cảnh nhà nọ thường xuyên chạy sang nhà kia mượn một món đồ.
Làm xong món chả giò đáp lễ cho các bà hàng xóm, chị thầm cầu xin các bà đừng vì lý do nào mà mang bánh, mang hoa đến tặng chị nữa.
Sang tuần thứ hai trong ngôi nhà mới, vợ chồng chị tổ chức nướng BBQ trong vườn sau, chị thích được hưởng không khí gia đình riêng tư như thế. Hai đứa con tha hồ chạy đuổi nhau trong khu vườn xanh cỏ, trong khi anh ngồi uống bia, ăn thịt nướng và ngắm hồ, ngắm rừng cây… Mua căn nhà gần hồ, đắt tiền, mà không hưởng cảnh hồ cũng uổng!
Chiều xuống thấp, những đám mây trời màu xám như muốn xà xuống trên đỉnh những rặng cây bên kia hồ; mặt hồ xanh đậm hơn, bóng tối đang ẩn núp đâu đó từ trong khu rừng kia sẽ đổ ụp xuống mặt hồ bất cứ lúc nào.
Khu vườn bỗng xuất hiện những đám muỗi từ những bụi cây, bụi cỏ bên bờ hồ đang đi tìm mồi khi bóng chiều buông. Chị đứng nướng thịt mà chốc lại đập muỗi, lại gãi tay, gãi chân, và có khi phải nhảy tưng tưng lên mà vẫn không xua được đám muỗi đói gan lì. Anh đang ăn cũng phải đứng lên di động cho muỗi khỏi tấn công, còn hai đứa con thì đều kêu lên:
— Muỗi cắn đau quá! Mẹ ơi, cứu con.
— Mẹ ơi, gãi cho con…
Chị cụt hứng và cũng không thể chịu đựng nổi cơn ngứa tưng bừng, bèn dắt con vào nhà để mặc cho anh dọn dẹp. Muỗi gì mà độc địa thế! Mẹ con chị bị đốt nhiều nốt sưng đỏ lên, càng gãi càng sưng và ngứa thêm. Khi mua ngôi nhà này, họ chỉ ca ngợi hồ nước trong xanh, rừng cây thơ mộng, không ai nói cho chị biết hồ nước và bụi cây là hang ổ của muỗi cả.
Anh dọn đồ vào nhà xong, phàn nàn:
— Làm sao mà dám tổ chức BBQ và mời bạn bè đến? Họ ăn được mấy miếng thịt nướng của mình thì muỗi đốt khắp người. Họ còn oán cho nữa chứ.
— Thuê người ta đến tiêu diệt muỗi được không anh? Chị lo âu hỏi.
— Muỗi ở những lùm cây và khu rừng bên kia, dài cả mile theo chiều dài khu hồ. Em có đủ tiền thuê người không? Diệt muỗi rừng cũng như diệt chim trời cá nước, chỉ có cách là… tuyệt đối không được ra vườn vào buổi chiều.
Chị kêu lên, đau khổ:
— Thế thì còn gì là giá trị ngôi nhà sang trọng này nữa?
— Muốn ở nhà đẹp, khu sang; bạn bè, họ hàng nghe đến đều “kính nể” thì phải tập mà thích ứng với mọi chuyện xung quanh nó. Đó là những người hàng xóm “quý tộc” kiểu cách ấy và đám muỗi rừng này. Chính em là người lựa chọn và đòi mua ngôi nhà này mà.
Chị im lặng vì anh nói đúng quá. Chị đã lựa khu sang trọng nhất trong thành phố, chấp nhận trả nợ góp ngôi nhà dài hạn, nhưng không ngờ rằng có những người hàng xóm quá kiểu cách, không hề thích hợp với gia đình chị. Sự tử tế thân thiện của họ vẫn làm chị cảm thấy lạc lõng; bây giờ lại phát giác ra khu vườn lắm muỗi càng làm chị ngao ngán. Không biết bao lâu nữa gia đình chị mới thích hợp được với những cảnh này?
Đêm hôm ấy chị ngủ mơ thấy căn nhà cũ, ở đối diện khu apartment ồn ào, rẻ tiền, hai bên là hai gia đình Mỹ đen. Chị nghe thấy tiếng nhạc Mễ ầm ĩ khi những anh chàng Mễ đang uống bia bên kia đường, và chị nghe thấy cả tiếng hai vợ chồng nhà Mỹ đen bên cạnh đang đứng nói chuyện ngoài sân; âm vang vọng vào trong giấc ngủ của chị.
Những người hàng xóm bình dân ấy chưa bao giờ mang sang nhà chị một bó hoa, một đĩa bánh.
Vậy mà những hình ảnh và âm thanh ấy bỗng là những kỷ niệm thân thương và gần gũi vô cùng.
Nguyễn thị Thanh Dương
|
PHI TRƯỜNG MÙA HÈ Phi trường mùa hè tôi vui chân bước, Nhộn nhịp người cho những chuyến đi xa, Có ai đó chia tay rơi nước mắt, Có tôi phút này ngoảnh mặt làm ngơ.
Thôi mặc kệ những nỗi buồn nhân thế Khi nơi này còn có những niềm vui, Trong đôi mắt long lanh cô gái trẻ, Tôi thấy tôi một thuở đã yêu người.
Hỡi những cô gái tôi không quen biết Tuổi đôi mươi đang sức sống tràn đầy, Cô mang mùa hè trên tà váy ngắn, Mang giấc mộng đời theo cả chuyến bay.
Phi trường mùa hè, tôi như mới lớn, Hành lý trên vai, rạo rực trong lòng, Tôi như thấy một chân trời hoa bướm, Ước gì đời vẫn có những chờ mong. |
Này anh, hôm nay tôi không biết khóc, Như đôi lần tôi khóc bóng hình qua, Này cuộc sống quanh tôi bao vụn vặt, Như bụi đường theo gió sẽ bay xa.
Những máy bay nằm phơi mình trong nắng, Đợi hành khách vào, lại cất cánh bay, Tôi muốn được đi cùng trời cuối đất, Dù đời người ai đi hết đó đây.
Máy bay chìm trong làn mây trắng xóa, Như dòng sông tôi chẳng thấy bến bờ, Dưới chân tôi phố phường không còn nữa, Thế gian này là thực cũng là mơ.
Kìa, thành phố nơi mà tôi đang đến Khi máy bay hạ thấp xuống lưng trời, Tôi bâng khuâng trong tay người thân đón: Chẳng biết đời còn có mấy lần vui. Nguyễn thị Thanh Dương
|
CHỊ HÀNG XÓM CŨ
Năm tôi học lớp 12, con nhỏ xinh nhất lớp đi lấy chồng, mời gần cả lớp đi dự. Lần đầu tiên trong đời được đi ăn cưới với tư cách đã trưởng thành (tuổi 18, chớ không phải đi ăn theo bà con họ hàng chòm xóm). Tôi và nhỏ bạn thân bàn tính, phải ăn diện trang điểm cho thật đẹp, nhưng ở tuổi đó, vào thời đó, hai đứa chẳng có một bộ “make-up” nào. Hơn nữa, mấy anh chị lớn trong nhà không đồng ý chuyện điểm phấn tô son ở tuổi học trò. Chúng tôi vẫn nhất quyết muốn được làm đẹp, bèn nhớ ra chị Hà trong xóm. Chị lớn hơn tôi 7-8 tuổi, thuộc thế hệ mấy ông anh tôi, nhưng chị là “thần tượng” của tôi vì chị thông minh, xinh đẹp với dáng người cao ráo, nước da trắng và nụ cười duyên dáng.
Cửa sau nhà tôi đối diện cửa sau nhà chị. Má tôi và má chị từng quen biết thân thiết, sau khi má tôi mất thì má chị hay qua nhà tôi. Mỗi khi có chuyện trọng đại như giỗ, cưới hỏi, má chị thay mặt cho má tôi, nên tôi với chị cũng là chỗ “người nhà”. Thế là chúng tôi đến nhờ chị bí mật trang điểm cho hai đứa. Tụi tôi mặc quần áo sẵn sàng, ghé qua nhà chị, trang điểm xong là đi thẳng đến đám cưới.
Chị la oai oải:
─ Thôi, thôi! Anh chị nhà em đã cấm, sao chị dám làm chớ, mặc dù chị không tiếc chuyện trang điểm cho tụi em.
Tụi tôi năn nỉ:
─ Chị làm ơn giúp tụi em! Đây là lần đầu tiên tụi em được làm người lớn, đám cưới này có bạn bè và nhiều người khác bên đàng chú rể, tui em nhất định phải… đẹp!
─ Nói thiệt, chị thấy tụi bay tuổi mới lớn, má đỏ môi hồng tự nhiên, mắt sáng da căng quá đáng yêu, cần gì trang điểm nữa! Mà thôi, chị sẽ đánh chút phấn thơm và thoa chút son, nha!
Chúng tôi đành chấp nhận, dù sao có vẫn còn hơn không. Nhà chị có người bên Mỹ gửi quà về, nên chắc chắn đồ trang điểm của chị thuộc loại “xịn”. Nhưng sau khi xong xuôi, chúng tôi nhìn vào gương vẫn không hài lòng, không thấy mình lộng lẫy thêm tí nào. Hai đứa rủ nhau về nhà nhỏ bạn; mượn cây son của chị dâu nó, rồi trét lên môi đỏ chót; rồi kẻ cặp mắt đậm lè; rồi tự tin kêu xích lô đến tiệc cưới.
Tưởng mọi chuyện êm xuôi, sau ngày đám cưới vài hôm, chị Hà gặp tôi, phàn nàn:
─ Sao tụi em cãi lời chị, tô son kẻ mắt như bà đồng bóng, mất hết vẻ đẹp ngây thơ của tuổi học trò. Bà chị của em mắng vốn chị kìa!
─ Ủa, sao chị em biết? Trước khi về nhà đêm đó, tụi em đã xoá hết màu son màu mắt rồi mà?
─ Làm sao chị biết được! Tụi bay làm mất uy tín của chị rồi!
Dĩ nhiên là tôi bị bà chị Cả và ông anh thứ tư (khó tính nhất nhà) mắng cho một trận nhớ đời. Sau lần đó, tôi đâu dám gặp chị vì biết chị còn giận. Ai ngờ số phận đẩy đưa (chắc là mắc nợ nhau), vài năm sau đó, tôi và chị lại tái hợp trong một chuyến vượt biên.
Tờ mờ sáng hôm đó, hai chị em tỉnh dậy, (tối qua tôi đã sang nhà chị ngủ để sáng ra bến xe đi miền Tây, vượt biên). Xuống dưới nhà, ba mẹ chị thắp nến bàn thờ Chúa, bốn người đọc 10 kinh, rồi mẹ chị gói hai gói xôi cho chúng tôi để vào giỏ hành lý. Chị hỏi tôi:
─ Xuất phát cửa trước hay cửa sau đây?
─ Cửa sau đi chị! Cửa trước sợ gặp mấy hàng xóm đi làm sớm, nhứt là chú Tư ba gác!
Hai đứa bèn đi cửa sau, vừa bước ra gặp bên hông Chùa, tiếng mõ dìu dặt nhịp nhàng của buổi công phu sớm làm lòng tôi xao xuyến:
─ Chị Hà ơi, nghe tiếng chuông chùa, tiếng mõ thân quen, em bước đi… hổng đặng!
─ Trời ơi! Nhà ngươi làm ơn bỏ cái tính cải lương sến, ưa mủi lòng đó được không? Cái miệng ăn mắm ăn muối nói tào lao, chưa ra bến xe đã chùn chân rồi!
─ Úi, em xin lỗi chị! Nhưng lần sau tụi mình nên xuất phát cửa trước.
Chị đánh vào vai tôi thiệt mạnh:
─ Lại nói bậy nữa rồi! Lần sau là sao? Bữa nay đi là đi luôn chớ!
─ Dạ em xin chừa, từ giờ phút này hổng dám mở miệng nói gì nữa!
─ Mà lỡ rồi, chị nói luôn nà. Đi cửa trước sẽ qua nhà thờ, lại có tiếng chuông kêu lễ sớm, mày lại xao xuyến, tốt nhứt là có cánh bay thẳng tới bến xe.
Hai chị em nhìn nhau cười mỉm chi. Vừa quẹo ra khỏi xóm Chùa ra đường cái, cả xóm vẫn ngủ im lìm trong bóng tối của trời nửa đêm về sáng. Bỗng chị níu tôi lại:
─ Ê, hình như có xe ba gác của chú Tư, mà còn có cả thím Tư ở trên xe nữa kìa, tính sao đây?
─ Không xong rồi chị ơi! Thím Tư được xóm mình gọi là thím “Tám” là chị đủ biết rồi đó! Vào đây núp đi chị!
Hai chị em tạt vào chiếc cổng của căn nhà bên đường, nép bên cột hàng rào. Tự dưng tôi rùng mình, nhìn lên cây dừa cao vút nơi góc sân căn nhà, run rẩy thì thầm:
─ Chị Hà ơi, em sợ quá!
Chị cũng hoảng hốt:
─ Vụ gì nữa đây?
Tôi chỉ cây dừa:
─ Chị hổng nhớ gì sao!
Tôi vừa dứt câu, chị cũng run lẩy bẩy. Căn nhà này, mới tuần trước, gia chủ có đám cưới. Anh con trai trèo lên cây dừa hái lá để làm rạp cưới cho em gái, nhằm ngày trời mưa mới tạnh, dây điện giăng ngang cây dừa bị chập điện; anh ấy bị điện giựt nằm vắt vẻo đen thui trên ngọn dừa. Cả xóm không ai dám nhìn. Vậy mà khuya nay chúng tôi đang đứng dưới cây dừa, hỏi sao không toát mồ hôi hột? Chị Hà kéo tôi đi như chạy:
─ Bây giờ có gặp mười thím “Tám” cũng chịu luôn em ơi!
Hai chị em vừa chạy, tuy sợ ma nhưng lại cười suốt cả đoạn đường cho đến lúc bắt được xe ra Xa Cảng thẳng tiến Cần Thơ. Chúng tôi ở Cần Thơ và Long Xuyên mỗi nơi vài ngày rồi đón xe lôi đến Sóc Trăng.
Đêm chờ ghe nhỏ tại ven sông Sóc Trăng, hai chị em thao thức, không ngủ được. Tôi hỏi:
─ Tụi mình đi bất ngờ, chắc chị chưa có dịp chia tay chàng bác sĩ của chị ha?
─ Ừa, chiều nhận tin là tối gói hành lý liền, đâu kịp gặp ai! Chị có viết mấy lời, khi nào ảnh tới nhà thì má chị sẽ đưa.
─ Chị nói gì?
─ Chị ghi gọn gàng lắm “Anh Giao, em đi vượt biên, anh đừng chờ đợi”.
─ Trời, sao mà phũ phàng còn hơn Lan cắt dây chuông không cho Điệp vào thăm vậy trời!
─ Thì mình đi rồi, phải cho người ta tự do chớ! Còn em, có nhắn gì cho ai không?
─ Dạ, em cũng chẳng kịp suy nghĩ, không biết nên nhắn cho ai!
Miệng tôi “ăn mắm ăn muối”thiệt, nói xui nói xẻo khi vừa bắt đầu, nên qua ngày hôm sau chúng tôi lại khăn gói trở về thành phố. Chàng bác sĩ biết nỗi “đam mê” của chị nên hơn một năm sau, hai anh chị lên đường qua Cambodia rồi lên tàu vượt biển qua Thailand. Một năm sau tôi cũng đi theo, nhưng đến trại thì anh chị đã đi định cư. Mãi hơn 20 năm sau hai chị em mới được tái ngộ tại Nam California.
Hôm nay tôi viết lại kỷ niệm này, mong chị đọc được, coi như tôi tạ tội cho lần lỡ dại “điệu đà tuổi 18” và cái miệng “mắm muối” thuở nào!
Kim Loan
|
ƯỚC AO Ước gì anh nắm lấy tay em Một lần thôi, dù chỉ vài giây Ước gì anh cùng đi với em |
Em sẽ vì anh, em làm thơ Ước gì anh đến tìm gặp em Kim Loan
|
TÌNH SÓC – VÀ CÂU CHUYỆN DIỆU KỲ
Chiều hôm qua, sau khi ngồi làm việc với computer mấy tiếng đồng hồ liền, tôi đứng lên đi bộ ra biển để thư giãn một chút. Đây là thói quen mà mỗi ngày, tôi tự thưởng cho mình, ít nhất là một tiếng đồng hồ thong dong đi bộ ra biển để hít thở bầu không khí trong lành. Chiều thứ sáu vắng người đi bộ, chỉ lác đác vài chiếc xe đạp vượt qua tôi cùng những tiếng chuông “kính coong” nhẹ nhàng. Con đường dọc bờ biển có nhiều loại cỏ cây cao thấp um tùm. Bốn mùa xuân hạ thu đông đều có đủ loài hoa dại khoe sắc xinh tươi. Nhiều khóm hoa vàng giống như hoa mai quấn quýt bên những lùm hoa màu hồng li ti, điểm xuyết vài cụm liễu xanh rờn phất phơ quyến rũ, cộng thêm những chòm cây cao dày đặc trái là trái, chùm chùm màu đỏ thắm, lớp lớp màu xanh đen. Tất cả hòa quyện dưới bầu trời trong vắt, giữa cái nắng chiều vàng nhạt, và gió cũng bảng lảng vờn quanh những chùm mây bạc lửng lơ... Một khung cảnh tĩnh lặng và mỹ lệ chẳng khác nào chốn thiên đàng.
Đang say sưa bước đều, hít thở, và ngắm nhìn thiên nhiên, tôi chợt giật mình bởi một tiếng động nhè nhẹ gần dưới chân. Nhìn xuống, tôi bắt gặp một chú sóc với bộ lông màu xám lung linh dưới nắng. Chiếc đuôi dài xù tung như chiếc chổi lông, cong vểnh lên đầy cảnh giác. Chú đứng dựng trên hai chân sau, chặn ngay trước mặt tôi, hai chân trước chắp lại như van lơn, như cầu khẩn. Ánh mắt tròn xoe nhìn tôi chằm chằm đầy khẩn thiết, và dù tôi có tiến lại gần hơn, lấy điện thoại ra chụp hình, chú vẫn kiên quyết không bỏ chạy.
Điều này không lạ lắm, vì khu vực bờ biển này dân số sóc đông vô kể, và chúng rất quen với con người. Du khách ở xa tới thường lén cho chúng thức ăn, dù thành phố có ghi bảng cấm cho thú hoang ăn, nên mỗi lần thấy người đi qua chúng dạn dĩ chạy theo xin xỏ, nhìn dễ thương vô cùng.
Tôi nghĩ chú sóc này cũng đón đường tôi để xin ăn như mọi khi. Đi dạo biển, tôi hay bỏ túi một nắm hạt hay củ đậu phộng rang chưa bóc vỏ, để nhai tạm khi nào thấy đói, hoặc thỉnh thoảng thảy cho lũ sóc vài hạt nếu chúng chạy theo. Thường thì khi thấy hạt đậu nguyên vỏ không ăn ngay được, chúng sẽ hít hà củ đậu một hồi rồi bỏ đi.
Nhưng lần này thì khác hoàn toàn. Chú sóc chẳng màng đến mấy củ đậu phụng tôi vừa thả xuống. Chú đứng nhìn như xoáy vào mắt tôi rồi hạ chân xuống và vội vã chạy đi. Tới lề cỏ chú dừng lại ngoái đầu nhìn, rồi lại tiếp tục chạy, làm đến mấy lần, dường như cố “ra dấu” thúc giục tôi đi theo.
Đốm sáng cầu cứu lấp lánh trong mắt chú sóc khiến tôi tò mò bước theo. Đến gần lùm cây cao có nhiều trái tròn nhỏ đỏ tươi cách đó chừng mấy mét, chú dừng lại, rồi xoay tròn người với vẻ rất bồn chồn.
Tôi đi theo chú đến tận nơi, và cảnh tượng trước mắt làm tôi ngạc nhiên đến há hốc.
Một chú sóc xám khác, cụt đuôi, nhỏ nhắn hơn chú sóc “dẫn đường”, đang bị một khúc gỗ đè bẹp từ phần bụng đến đuôi, chỉ thò ra cái đầu và hai chân trước. Chú sóc nhỏ tội nghiệp cố sức vẫy vùng, giãy giụa trong tuyệt vọng để thoát ra. Nhưng càng cục cựa, khúc gỗ lại càng đè chú lún sâu xuống lớp đất đen đầy lá mục, ép chú đến mức tưởng chừng xẹp lép. Ngay bên cạnh là một cái lỗ nông với những mảng đất còn ngổn ngang, vết bươi cào tơi tả. Thì ra chú sóc nhỏ đang mải mê đào bới đất kiếm mồi thì khúc gỗ bên cạnh bị hổng chân, lăn xuống đè chặt lấy chú.
Không mất một giây chần chừ, tôi quỳ xuống, cẩn thận lật khúc gỗ qua một bên và nhẹ nhàng nâng chú sóc nhỏ lên. Chú thoi thóp thở, thân hình bé nhỏ run rẩy vì kiệt sức và sợ hãi. Nhưng may mắn thay xương khớp không bị gãy, không thấy vết thương hay chảy máu. Tôi vuốt nhẹ lớp lông mềm mại, vuốt dọc cái đuôi nhỏ một hồi để trấn an, xoa dịu nỗi đau cho chú, rồi đặt chú nằm xuống bên ngoài gốc cây hoa đỏ.
Ngay khoảnh khắc ấy, một điều diệu kỳ đầy cảm động đã xảy ra.
Chú sóc lớn − “người đi kêu cứu” không bỏ đi chỗ khác. Chú lao ngay đến bên cạnh đồng loại của mình; nhẹ nhàng dúi chiếc mũi nhỏ nhắn vào má, vào cổ chú sóc nạn nhân; phát ra những tiếng kêu “lách cách” rất nhẹ như thầm thì an ủi, như muốn san sẻ hết nỗi đau đớn cho bạn. Rồi chú ủi nhẹ mõm vào đầu bạn mình với một sự dịu dàng đến nao lòng.
Nhìn đốm mắt chú sóc nạn nhân từ từ hé mở; nghiêng đầu cạ cạ, tựa vào chân trước “người anh hùng” của nó, như đón lấy sự chở che; lòng tôi dâng lên một niềm xúc động mãnh liệt. Nước mắt tôi chợt lăn dài lúc nào không hay.
Hóa ra, tình yêu thương không phải là đặc quyền của riêng con người. Giữa bờ biển ngập nắng chiều vàng, dưới vòm trời xanh ngắt, bên cạnh gốc cây dại có những chùm trái đỏ thắm tươi, câu chuyện của hai tâm hồn, hai sinh linh nhỏ bé đã dạy cho tôi một bài học tuyệt đẹp về tình yêu đồng loại. Không biết giữa chúng là tình mẫu tử thiêng liêng, tình anh em ruột thịt, hay một tình yêu lứa đôi nồng thắm? Chỉ biết rằng, khoảnh khắc chú sóc lớn sẵn sàng vượt qua nỗi sợ con người để chận đường khẩn cầu tôi cứu mạng cho đồng loại, cái “tình sóc” ấy đã chạm đến phần sâu thẳm nhất trong tâm hồn tôi. Thật diệu kỳ, thật thuần khiết, và bất tử, như chính vẻ đẹp của thiên nhiên quanh tôi trên bờ biển.
Tôi nín thở, rút điện thoại ra, xoay người lại nhẹ nhàng bấm một tấm hình “selfie” rồi nhét ngay vào túi vì sợ làm phiền cái giây phút thiêng liêng của chúng. Niềm xúc động xâm lấn tràn đầy trí óc, tôi quay lại và ngồi ngắm, ngắm mãi đôi sóc nhỏ đến sững sờ.
Cho đến khi chú sóc bị nạn cựa quậy tự đứng được; rồi cả hai cùng lủi cái rẹt, biến mất dạng vào lùm cây rậm rạp; tôi mới giật mình sực tỉnh. Tôi thở dài đầy nuối tiếc, đứng lên nhìn cái “hiện trường” chỉ còn lại khúc gỗ nằm chơ vơ và chùm cây trái đỏ, rồi bước tiếp về hướng bến cảng.
Nhưng suốt một giờ đồng hồ dạo biển tiếp theo, tâm trí tôi như bị đôi sóc ấy “chiếm giữ” hoàn toàn. Tôi từng đọc ở đâu đó “Một câu nói chân tình có thể làm thi nhân xuyến xao cùng ánh nguyệt, và một ánh nhìn tha thiết cũng làm nàng thơ thờ thẩn với màu trăng”. Dù không phải là “thi nhân” nhưng tôi cũng thường bị chinh phục và xúc động mềm lòng bởi những tình, những cảnh… rất cảm, rất thơ; rồi để hồn mình vẩn vơ cùng tuế nguyệt, nên tôi thường không làm chu đáo công việc ở nhà. Chả thế mà:
Mỗi lần vào bếp chảo nồi nghiêng
Chồng mắng: “Thơ em bán mấy tiền?”
Vì vậy ánh nhìn thiết tha cầu cứu của chú sóc chiều nay đã làm tôi bâng khuâng khôn tả. Tâm trí tôi cứ miên man về đôi sóc, và rồi những vần “thơ cóc” lại… nhảy ra:
Nắng dát vàng bãi ngọc
Sóng xoa bờ cát ngân
Giữa ngàn hoa chớm nở
Đôi sóc tựa thiên thần.
Dù tai bay, họa gửi
Không bỏ mặc tình chung
Tim hồng trao trọn vẹn,
Dấu yêu! Đẹp khôn cùng!
Dừng lại đọc vào iphone mấy câu thơ xong, tôi tiếp tục bước đi trong vô thức, cứ thầm nghĩ không biết có phải mình vừa trải qua một giấc mơ đẹp hay chăng. Tôi quên… tuốt luốt cả việc phải “hít sâu, thở lâu”, là phương pháp dưỡng sinh quen thuộc tôi vẫn thực hành trong những lần đi bộ ra biển để thanh lọc cơ thể.
Không cam tâm với sự tò mò đang dâng trào, vừa về đến nhà, chưa kịp đi tắm, tôi đã lao ngay vào chiếc laptop, bắt đầu cuộc “truy tìm” tung tích và bí mật đời sống của loài sóc đất. Và những gì đọc được thực sự đã làm tôi đi từ bất ngờ này sang kinh ngạc khác! Quả thật câu chuyện đôi sóc tôi chứng kiến không phải là mơ!
Hóa ra, những sinh linh nhỏ bé ấy chứa đựng cả một “kho tàng” sinh học diệu kỳ mà trước nay tôi chưa từng biết đến. Trái tim kiên cường, sự thông minh, và ngôn ngữ của sự thấu hiểu và đồng cảm của loài sóc đất đã từng được giới khoa học chứng minh. Sóc đất là một trong những loài động vật có tính xã hội rất cao. Chúng sở hữu một hệ thống âm thanh phong phú đến kinh ngạc. Có những “tần số” tiếng kêu riêng biệt để phân biệt nguy hiểm đến từ trên không (như diều hâu) hay dưới đất (như rắn, cáo). Nhưng điều làm tôi xúc động nhất là tính can đảm và lòng hy sinh vì đồng loại của chúng. Khi gặp nguy hiểm, một con sóc đất sẵn sàng đứng ở vị trí trống trải nhất, cất tiếng kêu báo động cho cả đàn trốn thoát; chấp nhận đặt bản thân vào ranh giới sinh tử. Chú sóc dẫn đường cho tôi hôm nay, có lẽ cũng đã dùng thứ “ngôn ngữ tình thân” ấy để cất lời gọi sự giúp đỡ từ một sinh vật to lớn là con người.
Trí nhớ siêu đẳng và bài học “nhân - quả” của loài sóc này cũng là một điểm rất đáng được tôn vinh. Bạn có biết mỗi mùa thu, một chú sóc đất có thể chôn giấu hàng nghìn hạt giống ở khắp nơi? Kỳ diệu ở chỗ, chúng có thể nhớ chính xác đến 80% vị trí các “kho báu” ấy nhờ bộ nhớ không gian phát triển vượt bậc. Còn 20% hạt giống bị quên đi thì sao? Chúng tự nhiên trở thành những mầm cây mới, gieo mầm cho những khu rừng xanh bạt ngàn. Sự quên lãng vô tình của loài sóc lại chính là món quà tái sinh dành cho trái đất.
Đặc biệt, sóc đất còn có trái tim bướng bỉnh trước độc tố. Và thú vị hơn nữa, sóc đất còn là những “chiến binh” cừ khôi. Máu của chúng có khả năng kháng lại độc tố của một số loài rắn độc. Khi bị đe dọa, sóc đất không bỏ chạy, mà chúng xù đuôi, bơm máu làm nóng chiếc đuôi lên để “phát tín hiệu hồng ngoại” cảnh báo và uy hiếp kẻ thù. Một đốm lông xám ngây thơ ấy vậy mà sở hữu một sức sống mãnh liệt và kiên cường đến thế!
Ngồi trước màn hình, nhìn những dòng thông tin khoa học về loài sóc, tôi chợt nhận ra, cái khoảnh khắc ngắn ngủi trên bờ cát chiều nay không phải là một sự tình cờ. Thiên nhiên đã cố tình gửi đến cho tôi một vị “tiểu đại sứ” để nhắc nhở rằng, bằng cách này hay cách khác, thế giới tự nhiên quanh ta luôn tràn ngập những điều kỳ diệu, tình yêu thương, và sự gắn kết vô hình. Vì mải mê hòa nhập vào những nhịp sống gấp gáp và chiếc màn hình vi tính vô hồn, có lẽ tôi đã bỏ lỡ nhiều câu chuyện cổ tích rất thật và đầy ắp yêu thương, đang diễn ra mỗi ngày, ngay bên cạnh những bước chân mình...
Phương Hoa – Cuối tháng 7, 2026
Tháng Bảy, 2026
Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh − Người Thương Binh VNCH”
Chủ Nhật, 26 tháng 7, cái nóng của mùa hè gay gắt, nhưng không ngăn chặn được bước chân người ta đi xem Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh − Người Thương Binh VNCH − Bắc Cali 2026” được tổ chức bởi: Hội Tương Trợ Thương Binh VNCH và Đài Truyền Hình SBTN, với sự hỗ trợ của các hội đoàn, ca nhạc sĩ hải ngoại cũng như các cơ quan truyền thông báo chí chung tay thực hiện.
Đọc tờ chương trình giới thiệu, tôi được biết thành phần gồm có: MC: NS Trúc Hồ, Nam Lộc, Diệu Quyên, Kim Nhung. Stage: Quế Trung. Ca sĩ: Việt Khang, Trish Thùy Trang, Thanh Lan, Dạ Nhật Yến, Bích Vân, Sayla, Vina, Nini, Philip Huy, Diệp Thanh Thanh, Thúy Vi, Mai Vy, Sỹ Đan, Mai Thanh Trúc, Kim Anh, Lê Khắc Bình, Hoàng Tường, Quỳnh Hoa, Đồng Thảo, Jenny Đan Anh, Kim Anh, Mỹ Thanh; câu lạc bộ Liên Trường Quảng Đà; nhóm Hát Cho Giấc Mơ Việt Nam; nhóm Sài Gòn Nhớ; vũ đoàn Việt Steps; hội Đồng Hương Quảng Trị & Thừa Thiên Huế, hội Gia Long Bắc Cali; hai ban nhạc Trúc Sinh (từ Nam Cali) và SJ Tutti Band (Bắc Cali). Chỉ đọc danh sách ca sĩ đã thấy một lực lượng hùng hậu, đa số là ca sĩ của trung tâm Asia trước đây.
Tôi và ông xã đến đúng giờ khai mạc là 12 giờ trưa, nhưng chạy xe cả chục vòng đến toát mồ hôi vì parking không còn chỗ trống; tai nghe tiếng chào cờ mà sốt ruột. Cuối cùng cũng có xe ra cho mình vào. Cầm 2 vé trên tay lòng nhẹ nhàng thở ra và thấy hân hoan phấn khởi khi nhìn người ta đi dự đông nghẹt.
Đến gần sân khấu dựng giữa trời, tim tôi đập mạnh với màn biểu diễn thật đẹp mắt muốn rưng lệ. Một rừng cờ Vàng, toàn giới trẻ mặc áo dài trắng, giàn hàng khắp khoảng sân rộng mênh mông trước sân khấu. Tôi không biết con số là bao nhiêu, đ
oán thầm gần cả trăm thiếu nữ bước nhịp nhàng, lá cờ vàng tung bay quá tuyệt vời. Tôi chạy lẹ, chớp hình lia lịa ghi lại hình ảnh ấy.
Các bài hát về quê hương, về lính VNCH khiến tôi quên mất tuổi mình đã già, cứ ngỡ như mới 20 tuổi ngày nào. Tiếng MC nhắc nhở về những người thương binh nay đã già yếu, số người liên tục trở về cát bụi quá nhiều, nay chỉ còn khoảng 10 ngàn người đau yếu vì tuổi già và do thương tật ngày xưa gây nên, đang nằm trong bệnh viện rất đông.
Những ca sĩ hát xong ôm thùng xuống quyên tiền, những cánh tay vẫy để được bỏ tiền vào thùng. Những tấm lòng nhân hậu gọi vào không ngừng nghỉ để Zelle tiền, gửi chi phiếu ủng hộ.
Trong nhóm Hát Cho Giấc Mơ VN, có em Kendrick Thiện Lê vừa hát xong ôm thùng xuống khán
giả. Cha mẹ cháu tuyên bố thùng tiền của cháu được bao nhiêu, thì cha mẹ sẽ cho nhân đôi lên. Cháu chỉ mới 13 tuổi, đẹp trai lại hát rành tiếng Việt, nên ông bà cô bác chạy theo muốn chụp hình chung, và bỏ tiền liên tục. Cuối cùng ban tổ chức công bố thùng tiền của cháu được hơn $1,600, như vậy sẽ thành $3,200 từ tiến cha mẹ bù vào.
Điều thật đáng ngưỡng mộ, nơi tha phương, những bậc cha mẹ luôn giáo dục con cháu nhớ về nguồn cội, giữ gìn tiếng Việt, gieo những điều nhân bản để con cái noi theo.
Hình ảnh treo đầy chung quanh sân khấu là những người lính năm xưa nay tuổi đã cao, người chống nạng, người ngồi xe lăn. Họ sống lay lất trong những mái nhà dột nát; nhìn mà xót xa, mà thương. Họ đã để lại một phần thân thể mình cho quê hương, sự hy sinh đau đớn làm sao chúng ta có thể quên được.
Trên sân khấu, những bộ quân phục lính vang lên tiếng hát xé ruột gan. Dưới khán đài, những mái đầu bạc, những bàn tay đã chai sần vì cày cuốc năm tháng tha hương, tất cả cùng ngồi lại bên nhau vì hai chữ ân tình. Ở xứ người, chúng ta may mắn không còn thấy hình ảnh người lính cụt tay, mất chân. Nhưng ở quê nhà, các anh vẫn còn đó, âm thầm chịu đựng thiếu thốn sau cuộc chiến đã qua hơn 51 năm.
Thỉnh thoảng tôi vẫn được xem những YouTube các anh thương binh tập trung tại
Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn, được đãi ăn cơm và nhận quà từ các linh mục. Họ còm cõi, khô héo như cái xác không hồn; hoặc thấy họ bên lề đường, các bến xe khắp nơi, cầm vé số còn phải lê lết vì sự sống.
Tôi cũng xem từ YouTube của chị Phan Kim Liên; xoay sở làm chà bông cá, trái cây sấy khô, bánh tét, v.v. bán, cộng với người nước ngoài góp chút đỉnh. Ngôi nhà chị luôn mời các anh đến ăn uống và phát quà an ủi họ.
Tại Huế có cô Tôn Nữ Tiểu Bích là hiệu trưởng của trường Nữ Thành Nội trước 1975, và cô Thanh Tâm trường Đồng Khánh hợp tác bao nhiêu năm qua. Hằng năm mỗi mùa thu, hai cô kêu gọi cựu nữ sinh góp tiền gởi về TPB (thương phế binh). Bên VN, ngoài Huế ra, cựu nữ sinh còn đi giao tiền tận tay tại vùng Quảng Trị, Đông Hà và các vùng quê.
Dù chẳng khá giả nhưng tôi đã nguyện bóp bụng, bỏ ống dành tiền tiết kiệm cho các anh TPB. Đó là mục đích chính nhưng vẫn tham gia khi có chương trình TPB của bà Thanh Thủy, của SBTN tổ chức.
Đẹp thay khi MC Nam Lộc ca ngợi những nơi tổ chức giúp TPB của hội bà Thanh Thủy, bên Úc; hay nhiều nơi khác, bày tỏ tinh thần đoàn kết của người tỵ nạn cùng hướng về các anh nơi quê nhà. Ông nói: “Chúng tôi ở hải ngoại không bao giờ quên ơn các anh”.
Buổi nhạc không chỉ là văn nghệ, mà là tấm lòng của đồng bào hải ngoại chắt chiu gởi về, gởi cái tình cái nghĩa để sưởi ấm những mảnh đời TPB đói khổ nơi quê nhà. Nhìn những anh chị em thiện nguyện của cộng đồng Bắc Cali chạy ngược chạy xuôi, tôi thấy thấm thía hai chữ “đồng bào“. Dù xa quê hơn nửa đời người, dù mỗi kẻ mỗi phương trời, nhưng nghĩa đồng bào thì không bao giờ phai nhạt. Gần cuối chương trình, khán giả yêu cầu ông Nam Lộc hát bài “Vĩnh Biệt Sài Gòn” − sáng tác của ông. Tiếng hát vang lên, buồn xa vắng:
Sài Gòn ơi, nắng vẫn có còn vương trên đường
Đường ngày xưa, mưa có ướt ngập lối đường về
Rồi mùa thu, lá còn đổ xuống công viên
Bóng gầy còn bước nghiêng nghiêng
Hay đã khóc thương cho người yêu…
Âm vang lời ca đầy lãng mạn nhưng đã kéo tâm hồn tôi trở lại dòng sông xưa, con đường cũ, thấm thía nỗi buồn trong hồn mênh mang, nhớ về một quê hương xa
vời vợi. Nhất là nơi đó còn có những người đã hy sinh cho chúng ta được sống. Và ở nơi đây, chúng ta vẫn còn nhớ ơn họ, vẫn còn góp gió thành bão để lòng không bị áy náy, ray rứt.
Xin cám ơn anh, người thương phế binh VNCH. Chúng tôi còn món nợ ân tình với anh, suốt đời không trả hết.
Minh Thúy TN – 26.7.2026
|
TẠM BIỆT WORLD CUP Tôi xem World Cup… đa sầu đa cảm Khóc cười theo kẻ thắng với người thua Lòng bâng khuâng khi hai đội đấu hòa Tim nhảy múa khi trái banh vào lưới.
Tôi xem World Cup, chẳng hiểu luật bóng Việt vị, ném biên, thẻ đỏ, thẻ vàng Nhưng tôi biết hồi hộp xem… phạt đền Biết niềm kiêu hãnh vì màu cờ tổ quốc
Tôi xem World Cup, mộng mơ ao ước Trái bóng lăn, thân ái tình kết liên Không còn sợ hãi, không có chiến tranh Trái đất hòa bình, hận thù không còn nữa.
Thả hồn theo khắp sân chơi rực rỡ Bồi hồi từng trận đấu với buồn vui Những đường banh, những vũ điệu tuyệt vời World Cup đến, rồi đi, tôi sẽ nhớ. |
Họ là những người đến từ khắp chốn Không cùng tiếng nói, chẳng giống màu da Dâng cho đời những cảm xúc thăng hoa Tất cả cùng chung khát khao chiến thắng.
Cám ơn World Cup, cám ơn các đội bóng Cùng với người hâm mộ khắp hành tinh Tạm quên lắng lo, phiền muộn xung quanh Ôi bóng đá, những phút giây kỳ ảo!
World Cup hết rồi, ai ai cũng hiểu Đợi mùa sau đến hẹn, lại gặp nhau Những tài năng, đẳng cấp khắp năm châu Sẽ tỏa sáng, hàng triệu người rạo rực.
World Cup đến, đi… người ta vẫn đợi Thủy chung như mong ngóng người tình xa Để được nghe tiếng cổ vũ ngoài kia Và tiếng khóc khi đấu trường khép lại! Kim Loan - Edmonton, World Cup 2026 |
CHIA TAY WORLD CUP
Cám ơn mùa World Cup
Đã đến giờ chia tay
Bốn năm sau hẹn gặp
Tiếp tục cuộc vui này.
Ở vòng 32 tôi đã buồn khi tiễn đội banh Đức, Hòa Lan về nước; đến vòng 16 lại “đau thương” tiễn Bồ Đào Nha của Ronaldo và “đại ca” Brazil − nơi sản sinh ra những cầu thủ đá banh tên tuổi lừng lẫy thế giới về nước, rồi cũng đành nguôi ngoai tự an ủi là vòng Quarter Final (tứ kết) vẫn còn những đội banh lớn là Pháp, Tây Ban Nha, Anh và Argentina cho mình thưởng thức.
Ở vòng tứ kết, tôi và cô em gái Kim Loan ở Canada cùng yêu thích, ủng hộ đội Pháp và Anh, vì Mbappe, vì Bellingham, Harry Kane, Rice, v.v.
Hai chị em không thích thần đồng Yamal của Tây Ban Nha, gặt hái những thành công quá sớm Yamal kiêu ngạo và “hư” nữa, đang tuổi “teen” mà tình trường lai láng mấy lần yêu nên chúng tôi… không thích luôn đội Tây Ban Nha của nó, ấy là chưa kể ba nó cũng nổ tưng bừng khoe khoang thằng con Yamal tài giỏi.
Còn đội Argentina hai chị em tôi không ghét bỏ gì, nhưng đội Argentina từng vô địch World Cup 3 lần − vinh quang danh vọng có thừa, trong khi Anh chỉ 1 lần và Pháp được 2 lần, thế nên chúng tôi mong mỏi Argentina và Tây Ban Nha thua để nhường cho Anh - Pháp tranh giải nhất nhì.
Vậy mà vòng Semi Final (bán kết) hôm thứ ba − July 14, Pháp thua Tây Ban Nha. Tôi và Kim Loan buồn hụt hẫng và đặt hết niềm thương yêu hi vọng Anh sẽ thắng Argentina.
Hôm thứ tư − July 15, Kim Loan vừa xem trận Anh – Argentina vừa làm bếp, đội Anh thua Argentina 1-2. Nàng rên rỉ với tôi là trái tim nàng tan nát; nàng thẫn thờ run rẩy tay bóc quả trừng luộc không xong. Còn tôi, cũng có khác gì, đáng lẽ cần ra chợ gần nhà mua thêm bó rau sà-lách và vài thứ lặt vặt cho bữa cơm chiều rồi về xem trận đấu lúc 2 giờ trưa ở Texas vẫn kịp; nhưng tôi quyết chí ở nhà đợi để “toàn tâm toàn ý” xem trận đấu; thà nhịn ăn rau chiều nay chứ không muốn bỏ phí phút giây nào của trận Anh và Argentina.
Hai chị em cùng thất vọng, buồn chuyện quả banh trên sân cỏ cứ như buồn chuyện của nhà mình. Chúng tôi chỉ là fan của họ mà buồn thế này thì chắc chắn là sau trận thua ấy đội Pháp cũng như đội Anh đã đau buồn biết bao nhiêu khi mà chỉ còn… chút xíu nữa là tay họ có thể chạm vào cái cúp vô địch ước mơ.
Chiều thứ bảy − July 18, Pháp và Anh đấu tại Miami tranh hạng 3-4. Tôi đau lòng lắm, nhìn hai đội banh mình thương, hai đội banh lớn bấy lâu nay tranh cái giải quèn 3-4 mà tủi thân giùm họ. Không ngờ khán giả ngồi đầy sân Miami Stadium, chắc họ cũng như tôi, vì các cầu thủ danh tiếng, vì muốn xem lối chơi đẹp của đội banh mà họ yêu mến.
Có lẽ không bị áp lực nên hai đội đều chơi tự nhiên, thoải mái nếu không muốn nói là khá tẻ nhạt. Hai đội thay nhau liên tiếp ghi bàn. Kẻ đá banh vào lưới đối phương chỉ vui mừng vừa phải. Trên khán đài ông huấn luyện viên của họ không sung sướng nhảy tưng lên như những trận đấu sinh tử khác. Kẻ bị thủng lưới hình như cũng buồn vừa phải. Hạng 3 hay hạng 4 có khác nhau là bao nhiêu.
Kết quả Anh thắng Pháp 6-4. Ôi, giá mà những cú ghi bàn này đội Anh và Pháp làm thủng lưới Argentina và Spain mấy hôm trước nhỉ!
Chiều nay chủ nhật − July 19, 2026 là trận chung kết Tây Ban Nha và Argentina. Cuộc so tài phần hơn nghiêng về phía Tây Ban Nha. Nếu thủ môn Argentina không tài giỏi phá banh thì Argentina đã thua mấy phen rồi chứ không chỉ 0-1 như kết quả sau cùng do công của tiền đạo Ferran Torres số 7, đá vào lưới Argentina. Tây Ban Nha xứng đáng trở thành vô địch World Cup 2026.
Thằng bé “hư” Yamal số sướng thật, mới 19 tuổi đầu đã có 2 danh hiệu to lớn huy hoàng: Vô địch Châu Âu 2024 và Vô địch World Cup 2026 mà nhiều cầu thủ khác chỉ thấy trong mơ.
Tôi và Kim Loan “trù ẻo” Yamal không thành. Thôi thì cũng chúc mừng đội Tây Ban Nha và thằng bé Yamal nhé.
Tôi than thở với chồng:
— Sau 104 trận banh, Tây Ban Nha lên ngôi vô địch World Cup, còn em… xuống gần 2 “pao”.
— Trời, bà buồn lo đau khổ cho mấy đội banh lớn thua trận nên ốm o gầy mòn hả?
— Cũng buồn chứ, với lại hơn 1 tháng World Cup diễn ra em đã sống… bất bình thường, ăn uống “bữa no bữa đói” và có đêm em ngủ mơ thấy quả banh thủng lưới “đội nhà” làm em bàng hoàng tỉnh giấc.
Chồng an ủi:
— Những đội banh World Cup phải về nhà sớm. Trong khi bà còn vương vấn tiếc nuối cho sự thất bại của họ thì các chàng cầu thủ ngôi sao ấy đã quen với những thắng thua, chắc gì còn buồn. Họ đang đi nghỉ hè, tắm biển ở những nơi sang trọng với vợ đẹp con khôn, với người yêu xinh như mộng. Mời bà trở về thực tế, bà đã cancel cái hẹn tháng 6 bác sĩ gia đình và lấy hẹn lại vào ngày mai thứ hai − July 20 sau mùa World Cup. Nhớ chưa?
Chồng nói đúng. Bây giờ tôi mở ti vi ra không còn những hình ảnh, những âm thanh rộn rã của World Cup, sẽ không có những trận banh cho tôi chờ mong. Người ta sẽ không còn nhắc gì đến World Cup. Nỗi buồn thương của tôi và Kim Loan cho những đội banh mình yêu thích cũng sẽ tan biến dần. Tất cả sẽ qua đi và chìm vào quên lãng.
Chia tay nhé World Cup ơi. Hẹn gặp lại mùa sau.
Nguyễn Thị Thanh Dương - July 19, 2026
|
CHỮ MANG NGHĨA: LÀM GƯƠNG Viết trang Thi Sử Hùng Ca Bàn tay chính trị không tha Cộng tà Nằm vùng, thiên tả: đuổi ra Việt gian, Việt cộng? Ai ưa cánh, bè!
Mấy mươi năm: chính nghĩa khoe Bằng lòng hãnh diện, ai nghe cũng tường Bao trang Hùng Sử cùng thương Trong từng sáng tác, mở chương Kiên Trì!
Người làm báo mở đường đi Hồi sinh chính khí: cô, dì góp tay. Thi từ, hội họa thật hay Lập trường vững chắc cùng bày nỗi đau.
Phúc còn nhờ gốc nơi đâu Cội nguồn ở đó! Tự hào miền Nam Cám ơn kẻ sĩ dám làm Hậu sinh học hỏi, âm thầm theo gương! Ý Nga, 18.7.2026 |
THIÊN CỘNG Nghe người trong nước chửi thề Lâu dần mi nhiễm cùng… nghề-không-lương? Ngàn năm văn hóa? Nghĩ thương: Không thề? Chỉ... chửi! Bí đường vùng lên! Ý Nga, 18.7.2026 |
SÀI GÒN VẪN MÃI LÀ SÀI GÒN
Chủ Nhật, ngày 5 tháng 7 năm 2026, tôi đã có dịp tham dự Đại lễ “Ngày Sài Gòn 2026 – 50 Năm Sài Gòn Mất Tên” tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ, Westminster, California.

Năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày tên Sài Gòn thân yêu bị xóa bỏ bằng một quyết định chính trị. Nhưng có những tên gọi đã đi vào lịch sử, thấm sâu trong ký ức và nằm mãi trong trái tim của một dân tộc − thì không một quyền lực nào có thể xóa đi.
Với tôi, và có lẽ với hàng triệu người Việt xa quê, Sài Gòn vẫn mãi là Sài Gòn − thành phố của một thời tuổi trẻ, của bao kỷ niệm vui buồn, và cũng là nơi tôi đã rời quê hương trong đêm cuối cùng của tháng tư năm 1975, để bắt đầu cuộc đời lưu lạc nơi xứ người.
Tham dự buổi lễ, lắng nghe những lời phát biểu đầy tâm huyết − đặc biệt là bài nói chuyện mạnh mẽ của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, tôi vô cùng xúc động và càng thấm thía lời Ngài nhắn gửi:
“Thể chế chính trị nào rồi cũng sẽ qua đi, triều đại nào rồi cũng sẽ sụp đổ, chỉ có dân tộc là trường tồn.”
Xin được chia sẻ cùng Thầy Cô và quý thân hữu video Đại lễ, bài nói chuyện của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, cùng những hình ảnh tôi ghi lại trong buổi lễ − như một chút tấm lòng gửi về Sài Gòn thân yêu.

Video Đại lễ “Ngày Sài Gòn 2026”:
https://www.youtube.com/watch?v=0D0CLanIbZQ
Bài nói chuyện của Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ.
Album hình ảnh Đại Lễ do PL ghi nhận:
https://photos.app.goo.gl/41MQAkdt7HkgiWvZ7
Sài Gòn vẫn mãi là Sài Gòn trong lòng người Việt.
Và tôi tin, một ngày nào đó, tên Sài Gòn thân yêu sẽ trở về với chính quê hương mình.
Phạm Phan Lang
CHỮ “ĐEO” ĐA DẠNG
Theo Tự Điển Việt online (https://vtudien.com/viet-viet/dictionary/nghia-cua-tu-%C4%91eo) chữ “đeo” có nhiều nghĩa:
- Bám sát, bám lấy, đi theo không rời. Diễn tả hành động theo sát một ai đó hoặc một mục tiêu nào đó, thường mang sắc thái kiên trì hoặc đôi khi là làm phiền.
- Mang trên mình như đeo khăn gói, đeo ba-lô, v.v.
- Gắn vào áo: Đeo huân chương; đeo lon, v.v.
- Đặt sát vào một bộ phận của thân mình: Đeo nhẫn, đeo hoa tai, đeo đồng hồ, đeo kính, đeo mặt nạ, đeo ví, v.v.
- Chịu đựng: Đeo nợ, đeo tật, đeo tiếng xấu, v.v.
Đang suy nghĩ chưa biết vào đề như thế nào, tôi bỗng xao xuyến vì những lời hát của bài Tàu Đêm Năm Cũ (nhạc sĩ Trúc Phương sáng tác) trên YouTube:
“Trời đêm dần tàn
Tôi đến sân ga đưa tiễn người trai lính về ngàn
Cầm chắc đôi tay ghi vào đời tâm tư ngày nay
Gió khuya ôi lạnh sao
Ướt nhẹ đôi tà áo...”
Tôi bồi hồi nhớ lúc tiễn anh về thăm gia đình ở Maryland. Trời thu, lúc hai giờ sáng, lạnh nhiều, đèn vàng leo lét, nhạt nhòa qua màn sương dày đục. Hai đứa co ro đeo dính nhau, qua những con đường quanh co vắng vẻ. Sân ga ở Ohio University, vào năm 1978, đơn sơ, trống vắng. Anh sưởi ấm tôi bằng vòng tay siết chặt, nụ hôn ngọt mềm...
Dĩ vãng làm tôi xốn xang, rung động... Buột miệng, trải tâm tư của mình theo dòng nhạc:
“Tuổi xuân dần tàn,
Tôi viết về anh – gửi những lời thương yêu nồng nàn
Ngày tháng năm xưa, con đường tình mưa lất phất bay...
Có bâng khuâng, lệ cay...
Dư âm vọng vang hoài!”
Bao nhiêu kỷ niệm cũ cứ thế kéo về...
Ngày ấy, cách đây đã hơn 50 năm, anh quyết tâm đeo đuổi hoài bão – đi du học. Đến năm thứ ba, anh tình cờ gặp tôi – “mục tiêu” lớn nhất của đời anh lúc bấy giờ. Thế là anh bắt đầu hành trình đeo đuổi – rất kiên trì và bền bỉ; quyết tâm chinh phục bằng được trái tim tôi. Anh đeo sát, không rời, từ những gắn kết thiêng liêng, ngọt ngào cho đến những phút giây mong nhớ khôn nguôi.
Trong giai đoạn "trồng cây si", anh đã cố gắng đeo đẳng tôi mấy năm trời. Anh đã từng nhẫn nại, dai dẳng, và bám trụ tại Ký túc xá Tiffin nhiều ngày, mới “đốn ngã” được những “cây si” khác để chiếm trọn con tim của tôi.
Nhiều đêm, chỉ để được gặp gỡ tôi trong vài giờ ngắn ngủi, anh đã đi bộ từ chỗ ở của mình tại Back Door trên phố Court đến đường West Mulberry, ngang qua Thư viện Alden, rồi xuống con dốc Morton để đến Ký túc xá Tiffin. Vào mùa thu, con đường ấy ngợp lá vàng rơi, đẹp và thơ mộng vô cùng. Nhưng cũng chính lối đi đó vào mùa đông lại ngập tuyết, tối tăm. Những tàng cây cổ thụ và bụi cây rậm rạp như có ai đó đang rình rập, dõi theo, khiến anh hoảng vía khi đi qua đấy sau suất chiếu muộn của bộ phim The Exorcist (Quỷ Ám).
Sự đeo đuổi dai dẳng ấy, đôi lúc khiến tôi vừa thích thú lại xen lẫn chút khó chịu – khó chịu vì tôi còn phải bận rộn với học hành, thi cử; còn anh thì đã tốt nghiệp, đã thảnh thơi, không bị buộc ràng bởi những lo toan. Có những buổi tối, anh nán lại thật muộn ở phòng sinh hoạt chung của ký túc xá (vì sau 8 giờ tối, ký túc xá quy định không cho phép khách vào phòng riêng), chỉ để lặng ngắm tôi học bài. Anh nhẹ nhàng nâng niu khuôn mặt, bờ môi, và trao tôi những nụ hôn ngọt ngào, say đắm. Để rồi khi tiễn anh về, nhìn theo hình dáng đơn độc của anh khuất dần trong đêm tối mờ sương, dưới ánh đèn vàng vọt, lòng tôi run lên những nhịp đập thổn thức trước tình yêu lãng mạn, thắm thiết của anh – một sự đeo đẳng chẳng muốn rời xa! Mỗi lần đi chơi chung, anh thích nắm chặt tay tôi, ôm vai thật chặt, lúc nào cũng đeo thật sát bên cạnh, đeo mãi không rời – như một lời khẳng định ngầm với các “cây si” khác là tôi đã thuộc về anh. Thật bõ công anh đeo đuổi!
Chỉ một tuần sau khi tôi tốt nghiệp đại học, anh vội vàng “rước nàng về dinh”. Anh trịnh trọng đeo chiếc nhẫn cưới vào tay tôi, đeo chiếc kiềng vàng vào cổ; cùng lời hẹn thề sẽ đeo nhau đi suốt cuộc đời! Khi đã nên duyên chồng vợ dưới một mái nhà, anh tự nguyện đeo mang cả những vui buồn, sóng gió, và đeo cả những thói hư, bệnh tật của tôi trong suốt 50 năm qua. Cung bệnh tật của tôi vốn xấu, lại thêm tính hay ôm đồm việc thiên hạ, tự đeo “gông vào cổ” khiến tâm trí bị căng thẳng; thân thể sinh ra lắm bệnh. Những lúc ấy, anh lại khốn đốn, vất vả chăm sóc và lo lắng cho tôi. Một tình yêu chân thành và nghiêm túc là thế; anh cứ lặng lẽ đeo mang trách nhiệm nặng nề như lời hứa năm xưa. Anh thay đổi nhiều để đeo tôi cho chặt, cho dài lâu.
Giờ đây, khi đã ở tuổi ‘thất thập cổ lai hi”, anh vẫn đeo tôi không rời, vẫn nguyên vẹn sự lãng mạn và ngọt ngào như thời còn son trẻ. Mỗi buổi tối cùng nhau xem phim, anh vẫn chọn ngồi thật sát, lặng lẽ đan ngón tay mình vào tay tôi. Mỗi sớm mai thức giấc hay trước khi chìm vào giấc ngủ, anh đều dịu dàng đặt lên trán tôi một nụ hôn bình yên...
Ở tuổi này, chữ "đeo" là sự chăm sóc, chia sẻ gánh nặng của đời thường. Anh chịu đeo chiếc tạp-dề (tablier) vào bếp nấu cơm khi tôi mệt; giành đeo chiếc túi xách nặng nề mỗi khi hai đứa đi chợ. Anh gọi bác sĩ để lấy hẹn khám bệnh cho tôi; lái xe đưa tôi đi về; đeo kính lão nhíu mắt đọc nhãn thuốc; và nhắc nhở tôi uống thuốc, uống nước mỗi ngày. Đấy, anh muốn đeo giùm tôi tất cả những sức nặng, dù là nhỏ nhất!
Hạnh phúc viên mãn là vậy, nhưng đôi khi lòng tôi lại dấy lên một nỗi niềm trăn trở. Sự hữu hạn của thời gian, đời người vô thường, và nỗi lo toan của người ở lại! Nếu một ngày nào đó tôi phải bỏ anh đi trước, chắc anh sẽ cô đơn và buồn lắm! Nghĩ đến dáng vẻ cô độc của anh dưới ánh đèn vàng năm xưa, tôi lại thắt lòng. Làm sao để có thể "vo tròn" hạnh phúc này cho thật trọn vẹn? Làm sao để đáp lại tình yêu thương bao la, một đời đeo mang trách nhiệm của anh?
Để đáp lại tình yêu của anh, suốt nửa thế kỷ, tôi đã tìm ra câu trả lời, chẳng ở đâu xa xôi. Tôi không nên lo lắng về một ngày mai chia ly, mà là trân trọng từng phút giây của hiện tại. Tôi tự nhủ sẽ buông bỏ, bớt ôm đồm, và tránh đeo mang những điều không cần thiết; biết tự chăm sóc bản thân tốt
hơn để "cung bệnh tật" của tôi bớt đeo anh, làm anh khốn đốn. Tôi sẽ cùng anh đi qua những năm tháng xế chiều này bằng nụ cười, bằng sự bình yên trong tâm hồn. Cứ mỗi ngày trôi qua được nhìn thấy nhau khỏe mạnh, được nắm tay nhau chuyện trò, ấy đã là câu trả lời trọn vẹn nhất.
Mai này, dẫu dòng thời gian có đưa về đâu, chiếc nhẫn cưới ngày nào vẫn đeo trên ngón tay, và tình yêu đeo đuổi cả một đời người sẽ mãi là báu vật thiêng liêng nhất mà chúng tôi đã cùng nhau xây dựng nên. Dù đời người có vô thường, ai đi trước – đi sau, thì tình yêu của anh vẫn là thứ trang sức lộng lẫy nhất mà tôi đã được đeo trong cuộc đời này. Nếu tôi đi trước, mong anh sẽ tiếp tục đeo theo những kỷ niệm ngọt ngào của 50 năm qua. Và tôi cũng làm như vậy, nếu anh là người đi trước. Để rồi nếu có kiếp sau, tôi cầu nguyện lại được anh đeo đuổi một lần nữa.
Đấy, chữ “đeo” thật đa dạng, có nhiều ý nghĩa: vừa hóm hỉnh, sâu sắc, lại vừa cảm động; xuyên suốt cuộc đời từ trẻ đến già. Đời người, có được những cái "đeo" như thế, ai mà không thích!
Nguyễn Phương Thúy, 10.7.2026
“ĐEO” – ẤY LỜI THƯƠNG
(Cảm tác tặng BB Phương Thúy.)
“ĐEO” – tiếng Việt sao đẹp thế này!
ĐEO nàng anh đội cả mưa bay
ĐEO tình tri kỷ hoài nguyên vẹn
ĐEO nghĩa tào khang mãi đủ đầy
ĐEO hết bốn mùa dù gió đảo
ĐEO toàn tám tiết mặc cuồng xoay
ĐEO nhau còn hẹn thêm nhiều kiếp
ĐEO – ấy lời thương, quá đủ đầy!
Phương Hoa ─ July 11, 2026
ALAMEDA – Hòn Đảo Nhỏ Mang Trái Tim Nước Mỹ
Sáng ngày 4 tháng 7
Alameda nơi tôi sống rất nhiều năm không phải là thành phố lớn. Chỉ là một hòn đảo nhỏ nằm an bình giữa vịnh San Francisco. Thành phố được thành lập năm 1853, hiện có khoảng tám mươi ngàn cư dân. Thế nhưng, nơi đây lại sở hữu một niềm hãnh diện khôn cùng, vì thành phố mỗi năm đều có cuộc diễn hành ngày Quốc Khánh, Lễ Độc Lập 4th July, dài nhất nước Mỹ, kéo dài hơn 3,3 dặm (5,3 km), quy tụ hàng trăm đoàn diễn hành và mỗi năm thu hút khoảng 60.000 người tới từ khắp nơi.
Năm nay lại càng đặc biệt hơn, vì là kỷ niệm 250 năm ngày Độc Lập của đất nước Hoa Kỳ. Từ rất sớm, con đường Park Street, từ đoạn Lincoln Avenue vượt qua Central Avenue về hướng downtown đã rợp sắc cờ Hoa Kỳ. Ghế xếp phủ kín hai bên lề đường. Người già, trẻ nhỏ, cựu chiến binh, gia đình nhiều thế hệ... tất cả cùng những lá cờ Mỹ phất phơ truớc gió, chờ đợi đoàn diễn hành với một bầu không khí vừa náo nức vừa thiêng liêng.
Điều bất ngờ là, trong khi Hoa Kỳ kỷ niệm 250 năm Tuyên Ngôn Độc Lập (1776-2026), thì Sở Cứu Hỏa Alameda cũng vừa tròn 150 năm phục vụ cộng đồng. Thật là kỳ diệu và thú vị vô cùng − hai sự kiện lịch sử hòa làm một cùng tiếng nhạc quân hành, cùng rừng cờ sắc xanh trắng đỏ, và cùng những tràng pháo tay không dứt của người dân đứng ngồi đông nghẹt hai bên vệ đường.
Xe hoa nối tiếp xe hoa. Những chiếc bánh kem khổng lồ chạy xoay vòng vòng ngộ nghĩnh giữa lòng phố thị; những chú ngựa oai phong gõ vó lộp cộp đều đều trên mặt đường; những chiếc xe cổ bóng loáng, những ban nhạc, những đoàn thiếu nhi, các hội đoàn thiện nguyện, cựu chiến binh, cảnh sát, cứu hỏa... Tất cả hòa nhập dệt thành một bức tranh đường phố, di chuyển ngoằn ngoèo rất sinh động, và đầy màu sắc như để minh chứng về sự hùng mạnh của nước Mỹ ngày hôm nay.
Cầm lấy cây cờ Mỹ từ tay một người lính cứu hỏa trên chiếc xe hoa chồm ra đưa khi thấy tôi chạy lại gần để chụp hình, tôi hào hứng đưa lên vẫy lia lịa. Nhìn xung quanh tôi, người dân cũng cùng nhau vẫy cờ Hoa Kỳ, cùng reo hò vang dội mỗi khi một đoàn diễn hành, một chiếc xe hoa chạy ngang qua. Niềm vui và hạnh phúc hiện rõ trên khuôn mặt mỗi người. Tại thành phố của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ này, không ai hỏi bạn đến từ đâu, cũng không ai phân biệt ngôn ngữ, chỉ có những bàn tay đủ màu da, trắng, đen, vàng, đỏ… cùng vẫy lá Cờ Hoa. Và đó mới chính là nhân tố làm nên vẻ đẹp của nước Mỹ.
Ngày Độc Lập đã được viết trong bản Tuyên Ngôn năm 1776. Nhưng ngày Lễ Độc Lập hiện giờ đang bừng sáng vì sự ngưỡng mộ của những đứa trẻ, trong ánh mắt của toàn dân, cùng tiếng vó ngựa vang lên giữa phố, và quan trọng hơn hết, là trong quyền tự do được đứng bên nhau để mừng ngày sinh nhật của Tổ quốc có 50 Tiểu bang này.
Giữa biển người hôm ấy, tôi chợt hiểu vì sao cuộc diễn hành của Alameda đã tồn tại non thế kỷ. Bởi vì nó là một lễ hội đầy ắp những nụ cười, những tiếng vỗ tay, và niềm hãnh diện của những con người bình dị từ bài học lịch sử sống động nhất.
Nhiều thập niên sống trên đất Mỹ, tôi đã dự nhiều Lễ Độc Lập. Nhưng ngày hôm nay, giữa bầu trời xanh thẳm của Alameda, nhìn hàng vạn người dân đủ mọi sắc tộc cùng vẫy cờ Hoa Kỳ, tôi chợt cảm nhận rất rõ một điều − Sức mạnh của nước Mỹ nằm ở kinh tế, quân sự, nhưng quan trọng nhất là khả năng gắn kết những con người khác nhau bằng một lý tưởng chung − Đó là hai chữ Tự Do.
Và rồi đêm pháo hoa, khi màn đêm buông xuống, Alameda lại khoác lên mình một vẻ đẹp hùng vĩ lung linh khác.
Sau 7 giờ tối, từ trong phố ra đến bến cảng Alameda, hàng ngàn người lặng lẽ đổ về phía biển gần mép nước. Người mang theo ghế xếp, người trải tấm chăn trên bờ cát, trẻ em ôm từng dây pháo bông chạy tung tăng, rồi dừng lại đốt lên cháy sáng rực cả một góc trời. Những người già ngồi sát bên nhau, khoác áo len mắt hướng về phía mặt vịnh mênh mông, người trẻ thì ăn uống vui cười, mở nhạc om sòm vừa ôm nhau lắc lư thật nhộn nhịp. Nhưng tất cả đều hướng mắt về phía cầu tàu bên biển Berkeley, chờ pháo bông nở rộ.
Cây cầu Bay Bridge của San Fransisco sáng rực ánh đèn nối liền đôi bờ vịnh. Những chiếc phà lặng lẽ lướt xa xa, hình như trên đó mang theo nhiều du khách đang chờ chứng kiến giây phút lịch sử của nước Mỹ tròn 250 năm tuổi.
Rồi... Một tiếng nổ đầu tiên xé tan màn đêm, phụt lên trời sáng lóe. Tiếp theo là tiếng reo hò vang dậy. Từng chùm pháo hoa đỏ, trắng, xanh, ba màu của lá cờ Hoa Kỳ, đồng loạt bùng nở trên bầu trời, phản chiếu xuống mặt nước lung linh như hàng ngàn viên kim cương đang nhảy múa. Cả vịnh biển như bừng tỉnh. Tiếng pháo dội vào không gian. Tiếng sóng vỗ dập dềnh vào bến làm vỡ vụn những ánh sao trên bầu trời vừa rơi xuống nước. Tiếng vỗ tay vang dội hòa cùng tiếng trẻ thơ reo cười rộn vang trên bến.
Lúc này mọi hoạt động ăn uống như dừng hẳn lại. Mọi ánh mắt đều hướng sang phía Berkeley Marina, nơi những chùm pháo hoa liên tiếp bừng nở trên nền trời. Từ bên kia vịnh, từng đóa hoa lửa đủ màu phản chiếu xuống mặt nước lấp lánh, khiến cả không gian như chìm trong một biển ánh sáng. Tiếng reo hò, tiếng vỗ tay tiếp tục hòa cùng tiếng sóng vỗ bờ tạo nên một bản hợp xướng tuyệt đẹp của đêm Quốc Khánh. Dù pháo hoa được bắn từ phía Berkeley, nhưng niềm hân hoan thì lan tỏa khắp mặt biển, nối liền hai bờ bằng niềm vui chung dành cho nước Mỹ.
Tôi đứng giữa biển người đông nghẹt nơi bến cảng, lặng nhìn những đóa hoa lửa nở rồi tan biến trên nền trời đêm, lòng bâng khuâng suy nghĩ, thương cho những đất nước nào trên trái đất mà người dân chưa bao giờ có cơ hội hiểu hết ý nghĩa của hai chữ Tự Do.
Rời bờ biển Alameda khi trời đã về khuya, nghe như tiếng nhạc vẫn còn vang vọng đâu đây. Những chùm pháo hoa bên kia vịnh đã tắt, nhưng trong tôi vẫn còn rực sáng một niềm tin. Hai trăm năm mươi năm vốn chỉ là một dấu ấn của lịch sử. Điều còn lại mãi mãi là tinh thần của một dân tộc biết trân trọng tự do, biết gìn giữ độc lập, và biết truyền ngọn lửa ấy từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ Hoa Kỳ ra khắp năm châu.
Có lẽ vì vậy mà hàng năm trong ngày Lễ Độc Lập, người ta đến Alameda để xem cuộc diễn hành dài nhất nước, và để được sống lại một phần tâm hồn của nước Mỹ tự do.
Đã đi qua biết bao mùa Quốc Khánh trên quê hương thứ hai này, nhưng mỗi lần lá cờ Hoa Kỳ tung bay trong nắng tháng bảy, lòng tôi vẫn dâng lên một niềm xúc động vô biên. Đêm đã qua, pháo hoa đã tắt, nhưng ánh sáng của ngày Độc Lập sẽ còn ở lại trong trái tim của hàng vạn con người đang có mặt nơi đây. 250 năm, một dân tộc, một lá cờ, và một nền Tự Do bất diệt.
Happy Birthday, America!
Phương Hoa – Lễ Độc Lập Hoa Kỳ
XEM WORLD CUP TẠI DALLAS STADIUM.
Thứ năm 15.6.2026, từ 4 giờ chiều vợ chồng tôi cùng gia đình con trai từ Utah, đã “lên đường” đến sân vận động tại thành phố Arlington, Texas để xem trận đá banh giữa hai đội Japan và Sweden lúc 6 giờ. Sân vận động chỉ cách nhà 10 phút lái xe.
Chiều nay, mùa hè Texas đẹp hơn bao giờ, trời trong xanh gió mát. Đậu xe từ xa, chúng tôi theo dòng người lũ lượt đi bộ trên con đường Cowboy Way để đến sân AT&T Stadium tức Dallas Stadium của mùa World Cup. Tôi thấy những fan mặc màu vàng Sweden, màu trắng chấm đỏ Japan, và thậm chí fan khoác áo Argentina cũng đi ủng hộ đội khác. Tinh thần thể thao bao la, ai cũng vui tươi hớn hở vì World Cup. Dọc bên lối đi có mấy người đứng bán nước trong thùng đá lạnh; phục vụ ai khát nước thì mua.
Đến trước cổng vào, chúng tôi qua kiểm tra vé lần 1 vào bên trong; rồi kiểm tra vé lần 2 vào hẳn trong khuôn viên của sân vận động. Tiếng nói cười, tiếng trống nhạc sôi nổi khắp mọi nơi. Tôi thấy ở một góc sân các fan của đội Sweden rực rỡ màu áo vàng đang ca hát nhạc của họ; tôi đứng nơi bậc thềm gần đó; chung niềm vui và chụp vài tấm hình.
Khi vào hẳn bên trong lại thêm 1 lần kiểm tra vé; tổng cộng là 3 lần. Mấy ông FIFA kiểm soát vé thật chặt chẽ, không cá nhân nào có thể gian lận vào xem show đá banh được (dù có “tay trong” là nhân viên làm việc trong sân vận động).
Xưa nay tôi chỉ nhìn sân vận động này bên ngoài, không thể hình dung bên trong nó rộng lớn và tiện nghi thế nào. Chúng tôi đi giữa biển người để tìm đường lên khán đài và tìm được tầng thứ hai; có số ghế mình ngồi mới yên chí là không đi lạc. Chỉ còn 20 phút nữa trận đá banh sẽ bắt đầu. Trên màn hình lớn trước mặt những hình ảnh nhảy múa ca hát, những âm thanh rộn rãl; tiếng nói của người điều khiển chương trình vang lên làm khuấy động cả không gian và cả lòng người.
Trên sân cỏ, những vòi nước tự động đang tưới cỏ ─ đây là cỏ thật theo yêu cầu của FIFA ─ trồng trong sân vận động có mái che kín, được thiết kế nhiệt độ ánh sáng và tưới nước cho cỏ tươi tốt. Ban tổ chức đã tốn kém bao nhiêu tiền vì World Cup.
Suốt chương trình World Cup ─ từ đài Fox tới đài “Mễ”, tôi đã khóc cười theo những cầu thủ và quả banh. Khi họ túm áo nhau như túm được … con nợ; khiến hai cầu thủ (ở hai trận khác nhau) bị rách áo tơi tả phải thay áo khác; có hai anh phải cột lại giây giày vì đá quá hăng, suýt bung cả giày; có những cầu thủ cùng nhảy lên đội đầu quả banh khiến “ta” và “địch” đụng đầu nhau ─ cùng đau, cùng ngã bên nhau.
Tôi hồi hộp theo dõi những đội banh “lớn” đấu với đội “tép riu” ─ nhờ luật mới của FIFA tăng lên 48 đội họ mới có cơ hội tham gia World Cup. Đội banh “lớn” tâm lý căng thẳng nếu thua đội “tép riu” sẽ mất uy; còn đội “tép riu” thì thoải mái hơn, được “vuốt râu hùm”, được nhiều khán giả biết đến nhờ đứng cạnh đội banh “lớn”.
Tôi vui mừng khi gặp lại những “cố nhân” từ cầu thủ đến huấn luyện viên nổi tiếng, quen tên quen mặt. Ông huấn luyện viên Pháp, vóc dáng vẫn lịch sự như xưa, nhưng ông bỗng… kém lịch sự, nổi giận ném mạnh chai nước đang cầm trên tay xuống đất khi đội kia gỡ lại 1 bàn thắng. Sau đó đội Pháp lại ghi bàn thì không biết ông có vui mừng, cúi xuống nhặt chai nước vô tội lên không? Ông huấn luyện viện đội Croatia vẫn trầm tĩnh theo dõi đội nhà thi đấu như mùa World Cup trước…
Bận rộn vì World Cup nên tôi đã phải gọi phôn cancel ngày thử máu định kỳ và ngày 12 tháng 6 đến ngày 20 tháng 7. Cô nhân viên của văn phòng bác sĩ gia đình ngạc nhiên:
— Bác bận tới cả tháng hả bác?
Chắc cô không biết gì về World Cup nên không thể đoán ra đó là ngày sau khi World Cup kết thúc ─ ngày 19 tháng 7.
Có những việc cần thiết phải đi ra ngoài thì tôi đành “hi sinh” chọn bỏ những trận của đội… dở nhất và đi “ba chân bốn cẳng” để kịp trở về nhà trước khi trận đá kết thúc; xem được tí nào hay tí ấy. Và có những việc có thể “sai” chồng thì tôi chẳng ngại làm. Tôi nhờ chồng ra Costco mua vài món đồ. Thấy chồng về sớm tôi hỏi:
— Người ta bận xem World Cup; chợ Costco hôm nay chắc vắng tanh như chùa Bà Đanh nên anh về sớm nhỉ?
— Này bà, chợ Costco vẫn đông, parking chật kín xe. Bà làm như cả thế gian ai cũng mê xem World Cup như bà, bỏ bê chợ búa. Tôi bắt chước bà “ba chân bốn cẳng” nên về sớm đấy.
Tôi lâng lâng nghĩ đủ thứ chuyện liên quan đến World Cup nhưng vẫn để mắt trên sân cho đến khi hai đội Japan và Sweden ra sân chào cờ. Tôi cùng mọi người trên khán đài háo hức reo hò countdown theo trên màn hình từ 10, 9, 8… cho đến số 1 rồi kick off; quả banh bắt đầu lăn trên sân cỏ.
Bao nhiêu năm nay, tôi xem World Cup trên màn hình tivi hôm nay tôi được theo dõi trực tiếp trên sân cỏ ─ thực tế sân cỏ không rộng mênh mông như trên màn hình tivi dù kích thước tiêu chuẩn vẫn thế. Đá banh trong sân có mái che, có ánh đèn nên hình ảnh cầu thủ và quả banh rất rõ ràng; sân cỏ đẹp như mơ. Thỉnh thoảng tôi nhìn lên màn hình ở những pha gây cấn. Khán đài luôn có tiếng hú, tiếng reo hò theo từng bước chân cầu thủ, theo từng lúc quả banh được đá đi làm tôi quên hết cả thế giới ngoài kia.
Trong không khí điều hòa mát lạnh của sân vận động, trong ánh đèn sáng chan hòa ấm cúng, tôi bỗng chạnh nhớ đến trận Pháp và Iraq tại sân vận động ngoài trời ở Philadelphia ngày 23 tháng 6. Trời đổ mưa to sấm sét, trận đấu phải dừng lại 2 giờ, cả khán giả và cầu thủ đều phải di tản trú mưa; thấy mà thương, mà thêm hãnh diện với sân vận động nổi tiếng của thành phố Arlington.
Mỗi khi cầu thủ được nghỉ giải khát 3 phút, trên màn hình lại diễn ra những màn ca hát, đàn trống và nhảy múa thật sôi động cho khán giả vui từng phút từng giây không ngừng nghỉ. Hôm nay có 70.137 người tham dự trận Japan và Sweden ─ một trận đá vòng bảng ngoài của hai đội chưa phải là tiếng tăm nhiều mà khán giả cũng đông vui thế.
Tôi nghe kể giá vé xem đá banh vào những ngày cuối rất hiếm và đắt; người ta sẵn sàng mua lại “giá chợ đen” gấp 3-4 lần so với giá chính thức của FIFA. Lúc nãy trước khi bước vào sân vận động tôi thấy một anh chàng cầm tấm bảng bằng carton ghi hàng chữ “Muốn mua vé xem trận đá Japan − Sweden. Ai có vé bán cho tôi.” Tội nghiệp, anh chàng mê đá banh mà không mua vé sớm để đến phút cuối phải cầu cạnh sẵn sàng mua đắt như thế chứ. Thôi thì lát nữa anh cứ đứng ngoài sân xem trên màn hình to rộng giữa trời với đám đông người mê đá banh và không có vé như anh. Họ đến đây để hưởng chung không khí tưng bừng náo nhiệt của World Cup; người ngồi trong sân vận động thì ta đứng ngoài cùng xem trận đấu như nhau.
Japan ghi bàn thắng trước, sau đó Sweden gỡ 1-1 đều. Trận đấu kết thúc trong hòa bình thân ái, tôi đỡ phải vui mừng cho kẻ thắng và mủi lòng thương hại kẻ thua. Nay mai tới round của 32 đội trở đi, knockout một còn một mất, tôi biết mình sẽ thương nhiều, khóc nhiều!
Cầu thủ hai đội đi vòng sân chào giã từ khán giả. Chúng tôi ngồi lại cho tới khi các cầu thủ rời khỏi sân; sân cỏ trở lại bình yên sau 90 phút thi đấu sôi nổi.
Cuộc vui nào cũng tàn, thế mà người ta phải tốn thời gian, tốn tiền mua vé máy bay, thuê khách sạn, mua vé FIFA chỉ để vui trong 2 giờ “phù du” ấy.
Từ những dãy ghế trống, vài cổ động viên người Nhật ngồi gần khu vực tôi, cầm túi đi lượm rác ─ những chai nước không, những túi giấy, những hộp giấy, v.v. Dù rằng công việc này sẽ nhanh chóng được dọn dẹp bởi những nhân viên của sân vận động.
Lúc vào, lũ lượt đông vui thì lúc tan ra cũng vậy. Tôi hoa mắt không định hướng được lối nào để ra ngoài. Lúc nãy, bước vào khuôn viên sân vận động người ta đã chụp hình, nay rời sân người ta cũng đua nhau chụp hình, chắc lưu luyến muốn giữ thêm chút kỷ niệm vui, trong số đó … có tôi, cũng “bon chen” chụp thêm một số hình.
Ra khỏi khuôn viên sân vận động, tôi thấy đám đông coi đá banh “miễn phí” ngoài trời, trên màn hình rộng, vẫn đang ăn uống và cười nói thoải mái; chưa chịu khép lại cuộc vui dù trận đấu đã hết. Anh chàng ghiền đá banh “thất thểu” cầm tấm bảng hỏi mua lại vé lúc nãy, cũng có mặt trong đám đông này. Chúng ta đều mê xem đá banh, là bạn nhau phút giây này, không phân biệt là ai.
Trận banh trên sân Dallas Stadium ─ cả một trời vui với bao nhiêu hình ảnh âm thanh rộn rã, sẽ ở lại mãi trong ký ức tôi.
Tôi tin rằng mùa World Cup 2026 có 104 trận banh diễn ra ở nhiều nơi trên 3 quốc gia Canada, Mexico, và Mỹ là có 104 lần vui như hôm nay; không chỉ những khán giả trong sân vận động mà ở khắp nơi trên thế giới.
Cám ơn World Cup đã cho thế giới gần nhau hơn. Cám ơn tất cả những cầu thủ của 48 đội ─ dù các bạn thắng hay thua cũng đã cống hiến bao công sức, tài hoa, và khát vọng của các bạn cho hàng tỉ người yêu thích đá banh qua những cuộc tranh tài đầy thú vị.
Nguyễn Thị Thanh Dương, 10.6.2026
|
QUẢ BANH VÀ CẦU THỦ Quả banh trên sân cỏ Như là một người tình 90 phút trận đấu Anh vẫn luôn kiếm tìm.
Giữ được em trong chân Phút nào vui phút đó Em ơi đừng làm khó Ở lại với anh lâu.
Có khi em dịu dàng Theo anh dù gian nan Cám ơn người tình bé Anh đá vào lưới ngoan. |
Có khi em hờn giận Khi nhịp chân anh sai Em người tình bội bạc Quả banh vào chân ai.
Bao nhiêu người theo dõi Bước anh và bóng em Diệu kỳ khoảng không gian Tình yêu trên sân cỏ.
Thế rồi tàn trận đấu Dù kẻ thắng người thua Tình yêu đã sang mùa Chúng mình chia tay nhé.
Không còn những khán giả Sân vận động trống không Quả banh và cầu thủ Mai này vào lãng quên. Nguyễn Thị Thanh Dương, 10.6.2026 |
Lễ Độc Lập ─ Mừng Nước Mỹ 250 Năm
Năm nay nước Mỹ mừng 250 năm ngày Độc Lập, và cũng vừa mở hội World Cup 2026 ngay trên đất Mỹ.
Từ ngày 11 tháng 6 tới 19 tháng 7, cờ Mỹ treo khắp nơi; người ta hát quốc ca trước mỗi trận. Gia đình nhà chồng tôi cũng rộn ràng. Cô chú, em ông xã, mua vé xem tận bên Seattle, người kia mua vé qua Santa Clara; các cháu cũng vậy. Vợ chồng tôi thuộc thế hệ lão niên, chỉ có ông xã tôi ngày đêm dán mắt vào tivi theo dõi từng trận. Kể cũng tội cho ông, “rượu ngon không có bạn hiền cùng uống”. Vì tôi chẳng biết gì về bóng đá, chỉ xem khi đội Mỹ ra sân, nghe dân reo hò. Khi thấy lá Mỹ bay phất phới giữa sân Levi's ở Santa Clara, ở Seattle, ở Los Angeles, tự nhiên thấy vui, thấy ấm lòng. Đất nước đã cưu mang mình, nay đứng ra đón cả thế giới.
Qua lời kể của ông xã tôi ─ Đội Mỹ năm nay đá khá lắm. Mở màn gặp Paraguay ở Los Angeles, thắng 4-1. Tội nghiệp đội bạn, tự đá vào lưới nhà một trái, còn lại thì cậu Folarin Balogun ghi hai bàn, cuối trận cậu Gio Reyna sút thêm một trái cho đủ 4-1. Thắng trận đầu ngay trên sân nhà, cả nước reo. Rồi gặp Úc ở Seattle, Mỹ lại thắng 2-0, giữ sạch lưới. Tới trận gặp Thổ Nhĩ Kỳ ở Los Angeles thì Mỹ thua 3-2, nhưng đá cũng hay. Vào vòng 32 đội, Mỹ gặp Bosnia and Herzegovina ngay sân Santa Clara gần nhà. Con cháu chở cha mẹ đi xem; đường kẹt xe; người đông nghẹt. Mỹ thắng 2-0. Balogun mở tỉ số, rồi cậu Malik Tillman đá phạt đẹp lắm, ấn định chiến thắng. Nghe nói đây là lần đầu sau 24 năm ─ từ hồi thắng Mexico năm 2002, Mỹ mới thắng được một trận loại trực tiếp ở World Cup. Sau đó, Mỹ vào gặp Bỉ ở vòng 16 đội. Ngồi nhà xem tv, thấy cầu thủ Mỹ đủ màu da, gốc gác tứ xứ, mặc chung một áo, hát chung một bài quốc ca; cũng như mình hồi xưa, chân ướt chân ráo tới xứ này từ sau 1975.
Năm nay nước Mỹ mừng 250 năm ngày Độc Lập. Thời gian chỉ vừa trải qua ba hoặc bốn thế hệ để người Mỹ lập nên một quốc gia hùng mạnh nhất thế giới.
Tôi còn nhớ một phần lịch sử được học hồi mới qua. Năm 1776, 13 thuộc địa đồng lòng đứng lên nói với nước Anh rằng: “Chúng tôi muốn tự do.” Trải qua bao chiến tranh giành độc lập, đã viết lên bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Rồi gian khổ trong nội chiến để bỏ đi chuyện buôn người, chống phân biệt chủng tộc... Sau đó tham gia vào hai trận Thế chiến để cứu cả thế giới
Từng bước một, nước Mỹ đã đi lên từ công sức của những người di dân tứ xứ. Đến hôm nay mới có một nước Mỹ bao dung, đón nhận những dân tỵ nạn như chúng tôi ─ chân ướt chân ráo đến xứ này từ những ngày sau 1975; tay xách vài túi quần áo, tiếng Anh ú ớ, trong tay không có mấy đồng...
Nhìn ra khoảng sân sau, bụi hoa giấy đỏ thắm tươi dưới nắng hồng rực rỡ; cây phượng vàng che mát khoảng sân, cành lá xanh mượt, những chùm phượng xum xuê nở rộ, ẻo lả đong đưa trước làn gió nhẹ. Mùa hè truyền cảm giác mạnh mẽ, đầy sức sống. Mặc ông chồng đang xem bóng đá, tôi ngắm khu vườn, thả dòng tư tưởng qua vùng ký ức.
Ngày xưa, gia đình nhà chồng tôi qua trước, gồm 11 người con sống cùng cha mẹ trong ngôi nhà có 4 phòng ngủ, 2 phòng tắm. Chỉ có anh chị Cả ở riêng vì qua năm 1975. Vợ chồng tôi và gia đình chú em, 4 người, ở garage đã sửa lại thành 2 phòng. Cả gia đình chỉ có hai chiếc xe cũ mua lại để dùng, số còn lại đi xe bus.
Thời gian cứ thế trôi qua, cho đến bây giờ con cháu đỗ đạt thành công. Tính đến nay đã có gần 20 căn nhà; người có hai cái, người có ba cái. Xe có gần 40 chiếc.
Xứ Mỹ đã cho chúng tôi cái nhà để ở, cho con cháu trường để học, cho mình công việc để làm lại từ đầu. Từ một người mất hết và không có tương lai, mình thành công dân và con cái nên người, thành đạt.
Mấy năm trước, chân còn khỏe, tôi cũng đi trong đoàn diễn hành ở thành phố Fremont. Lúc đó tôi và ông xã là bạn một hội viên của ABC Club ─ một tổ chức có tính cách giáo dục, hướng dẫn tuổi trẻ tập dạn dĩ, tập phát biểu ý kiến trước đám đông, tập nói ngắn gọn dễ hiểu để sau này có thể trở thành người lãnh đạo trong mọi lãnh vực.
Chương trình ABC Toastmasters ─ đã sinh hoạt gần 100 năm trên nước Mỹ. Gần 15 năm trở lại đây được mở rộng trên thế giới. ABC Toastmasters thường họp vào mỗi thứ Bảy lúc 10 giờ sáng tại Unitek College, nằm trên đường Auto Mall Parkway. Trong buổi họp, bất cứ ai cũng có thể lên nói về một đề tài nào đó. Các khán giả lắng nghe và nhận xét phong cách diễn đạt, rồi đúc kết những khiếm khuyết như nói dài dòng, thế đứng chưa tự tin, giọng nói còn run, v.v.
ABC Toastmasters đã tham gia diễn hành vài năm qua và được xếp hạng nhì năm ngoái. Lúc đó chúng tôi mặc quần jean xanh, áo đỏ và đội mũ trắng, cầm cờ nhỏ, đi giữa phố; người ta vỗ tay nhiệt liệt. Nay già rồi, chân chậm, bạn bè cùng nhóm cũng có người đau yếu, có người bận việc gia đình, nên hết tập họp được nữa. Nghĩ cũng buồn, nhưng thôi, mỗi thời mỗi khác.
Vừa qua tôi nhận được email của ông hội trưởng Văn Thơ Lạc Việt ─ Lê Văn Hải, và tin nhắn của các em, các bạn: mời cộng đồng tỵ nạn Việt Nam đến tham dự Lễ Thượng Kỳ đầu tháng và chương trình “Mừng 250 Năm Quốc Khánh Hoa Kỳ”; được tổ chức tại Vườn Truyền Thống Việt, 1499 Roberts Avenue, San Jose, CA 95122. Trước là lễ chào cờ, sau là chương trình văn nghệ, sinh hoạt cộng đồng, do Ủy Ban Thúc Đẩy Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt – Mỹ, San Jose góp phần tổ chức.
Lời mời chân tình của ông Lê Văn Hải thật tha thiết: “Năm 2026, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ long trọng kỷ niệm 250 năm ngày khai sinh quốc gia, 1776-2026, một sự kiện lịch sử vô cùng đặc biệt, hiếm có. Đây không chỉ là dịp để nhìn lại chặng đường chông gai của một quốc gia được xây dựng trên nền tảng Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền; mà còn là dịp để tri ân những thế hệ đã góp phần tạo dựng nên một nước Mỹ hùng mạnh, thịnh vượng, và là quê hương thứ hai của hàng triệu người nhập cư ─ trong đó có cộng đồng người Việt tỵ nạn. Ngày 4 tháng 7, Independence Day, đánh dấu bản Tuyên ngôn Độc lập được chính thức thông qua vào ngày 4/7/1776, và sự thàn lập của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Từ đó đến nay, ngày lễ này luôn là biểu tượng của khát vọng tự do và tinh thần đoàn kết dân tộc. Đối với cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại San Jose, Quốc Khánh Hoa Kỳ còn mang một ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là ngày tri ân nước Mỹ đã mở vòng tay đón nhận chúng ta, cho chúng ta cơ hội làm lại cuộc đời trong tự do, an toàn và nhân phẩm. Trân trọng kính mời quý đồng hương đến tham dự, chứng kiến lễ kỷ niệm 250 năm lập quốc của Hoa Kỳ ─ một sự kiện lịch sử đặc biệt, đáng nhớ đối với mọi thế hệ. Kính mời quý đồng hương đến tham dự, cùng nhau kéo lá đại kỳ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, cùng cất cao tiếng hát, và chia sẻ niềm vui, bày tỏ lòng tri ân đối với đất nước đã cưu mang cộng đồng người Việt bao nhiêu năm qua. Sự hiện diện của quý vị sẽ làm cho ngày Lễ 250 Năm Quốc Khánh Hoa Kỳ thêm trang trọng, đông vui, và đầy ý nghĩa.”
Ngày đó chúng tôi cũng thật bận rộn, nhưng qua lời nhắc nhở của ông Lê Văn Hải về “cái ơn” to lớn của nước Mỹ; hai thân già bệnh hoạn này cũng ráng tới tham dự. Buổi trưa sẽ lên nhà cháu gái ở Palo Alto, sum họp đại gia đình ăn mừng Lễ Độc Lập.
Tôi nhìn chồng tôi đang ngồi hò hét một mình theo các cầu thủ, dù âm thanh không còn mạnh mẽ như những năm trước, mà cám cảnh cho tuổi già, không mời mà lừng lững đến. Có lần trong giấc ngủ ông đã mơ và hét lên “sút, sút”, rồi húc đầu vào tường mạnh; bầm sưng tím cả mắt. Còn tôi thì đang ngắm vùng trời xanh, áng mây trắng nhẹ nhàng trôi. Bây giờ cũng có những niềm vui khác như sự sum họp ăn mừng Lễ Độc Lập của đại gia đình chồng ─ thay phiên nhau mỗi năm, lúc tổ chức nhà này, khi nhà kia. Con cháu bên chồng đông lắm, ăn học thành tài dù đi làm xa nhưng đến ngày lễ là các cháu thu xếp về hết. Làm tiệc lớn ngoài sân sau; người nướng thịt, người làm gỏi, còn con nít chạy chơi. Đứa nào cũng mặc áo, đội mũ màu xanh, đỏ, trắng, màu cờ Mỹ. Tối đến cả nhà kéo nhau ra xem pháo bông. Một đại gia đình ─ ba thế hệ; tóc bạc lẫn tóc xanh, nói tiếng Anh - Việt lộn xộn; thương lắm. Nhớ lại những ngày còn ở quê hương, ăn bo bo, mặc áo cũ, rồi nhìn lại cuộc sống bây giờ, nhìn con cháu nên người, cảm nhận niềm hạnh phúc mà nước Mỹ đã ban cho mình. Ơn này lớn quá!
Biết ơn vì được sống tự do, được thờ cúng tổ tiên, được nói tiếng Việt. Biết ơn vì ngày lễ, con cháu còn biết mặc áo dài, còn biết cúi đầu trước bàn thờ. Chúng tôi là người Việt, nhưng cũng là người Mỹ, hai quê hương trong một trái tim. Ngày Độc Lập, người ta đốt pháo bông ăn mừng; đêm khuya tôi cũng thắp nén nhang ─ tạ ơn nước Mỹ đã cưu mang chúng tôi để có được ngày hôm và xin ông bà phù hộ cho con cháu đừng quên cội nguồn.
Đã qua 250 năm, nước Mỹ vẫn trẻ trung, đầy sức sống của thời đại mới; còn chúng tôi ─ kẻ tỵ nạn năm xưa, nay đã lên lão. Chỉ mong trước khi nhắm mắt, con cháu mình hiểu một điều: tự do không phải tự nhiên mà có. Đã có người ngã xuống từ năm 1776; có người chịu cưu mang mình sau năm 1975, thì phải nhớ mãi và tím cách đền đáp cái ơn này.
Cám ơn nước Mỹ!
Minh Thúy Thành Nội, 4.7.2026
|
Happy 4th of July Lễ Độc Lập Hoa Kỳ Diễn hành oai hùng đi Trống kèn hòa nhịp điệu Lá cờ vẫy uy nghi.
Kỷ niệm ngày khai sinh Hai trăm rưỡi năm nhìn Thành lập trang lịch sử Chặng đường dài hiển vinh.
1776 tranh Tuyên ngôn Độc Lập giành Ra đời Hợp Chủng Quốc Biểu tượng Tự Do thành.
Từng giai đoạn khó khăn 13 thuộc địa hằng Đấu tranh nền dân chủ Gian khổ phải hiểu rằng. |
Cộng đồng người Việt Nam Tri ân ý nghĩa hàm Mỹ mở vòng tay đón Khởi công bắt tay làm.
Dự lễ mừng lắm thay Cờ Mỹ, cờ vàng bay Cùng đoàn kết dân tộc Bốn tháng 7 vui ngày.
Nơi nơi tiệc rộn ràng Khui rượu hát hòa vang Mừng Cờ Hoa vững chải Thế hệ sau xếp hàng.
Đêm nghe pháo đì đùng Trên trời tỏa sáng khung Xanh đỏ vàng rực rỡ Niềm cảm xúc hoà chung. Minh Thúy Thành Nội, 4.7.2026 |
Kính dâng quê hương thứ hai của hàng triệu người Việt tị nạn, với tất cả lòng biết ơn, nhân dịp kỷ niệm 250 năm Lập quốc Hoa Kỳ (1776–2026).
Lịch sử của mỗi dân tộc đều có những ngày không bao giờ phai nhạt.
Đối với Hoa Kỳ, ngày 4 tháng 7 năm 1776 đánh dấu sự ra đời của một quốc gia được xây dựng trên lý tưởng tự do, dân chủ và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Đối với hàng triệu người Việt ly hương, biến cố năm 1975 đã mở ra một hành trình đầy nước mắt, nhưng cũng đưa chúng tôi đến một bến bờ của hy vọng. Trên mảnh đất Hoa Kỳ, chúng tôi tìm lại phẩm giá của con người, tìm thấy cơ hội để học tập, làm việc, cống hiến và nuôi dưỡng những thế hệ tương lai trong tự do.
Với riêng tôi, lòng biết ơn ấy còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn. Từ một người tị nạn, tôi đã có vinh dự được phục vụ đất nước này trong quân phục của Quân đội Hoa Kỳ; xem sự cống hiến của mình như một cách đáp đền phần nào ân tình mà quê hương thứ hai đã dành cho gia đình tôi.
Bài thơ Quê Hương Thứ Hai được viết không chỉ để chúc mừng một sự kiện lịch sử, mà còn để lưu giữ một lời tri ân.
Tri ân một dân tộc đã chọn tự do làm nền tảng lập quốc.
Tri ân một đất nước đã mở rộng vòng tay với những con người mất quê hương.
Và tri ân quê hương thứ hai đã cho hàng triệu người Việt tị nạn cơ hội được sống, được làm người, được phụng sự và được mưu cầu hạnh phúc.
Xin kính chúc Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ mãi mãi hùng cường; ngọn đuốc tự do luôn tỏa sáng để soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Xin kính chúc quý thầy cô, quý anh chị và các bạn Happy July 4th!
phamphanlang ─ Một người Việt tỵ nạn biết ơn nước Mỹ
July 4th, 2026
|
QUÊ HƯƠNG THỨ HAI (Mừng 250 năm Lập quốc Hoa Kỳ) Hai trăm năm mươi năm Đất nước của niềm tin Bao đoàn người lưu vong Hoa Kỳ mở vòng tay Từ đổ nát chiến tranh Gia đình tôi hôm nay |
Được nói điều mình tin Hăm hai năm quân ngũ Dẫu tóc nay pha sương Xin cho ngọn đuốc thiêng Để mai này cháu con Mừng hai trăm năm mươi, Việt Nam còn trong tim phamphanlang ─ Một người Việt tỵ nạn biết ơn nước Mỹ July 4th, 2026
|
NHỮNG SỰ KIỆN QUAN TRỌNG NHẤT TRONG LỊCH SỬ HOA KỲ

A- 10 Sự kiện quan trọng nhất trong Lịch sử Hoa Kỳ và lý do chúng vẫn còn ý nghĩa.
Lịch sử Hoa Kỳ có nhiều bước ngoặt ─ những ngày mà đất nước thay đổi vận mệnh mãi mãi. Một số sự kiện được kỷ niệm rộng rãi, số khác được nhớ đến với niềm đau thương, và một vài sự kiện vẫn khơi dậy những cuộc tranh luận ngay cả khi nhiều thế hệ đã trôi qua.
Nếu bạn từng thắc mắc đâu là những sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, bài viết này sẽ điểm qua mười khoảnh khắc mang tính bước ngoặt lịch sử và lý do tại sao chúng vẫn còn ý nghĩa trong thời đại ngày nay.
Từ nền độc lập và chiến tranh cho đến những thảm kịch và thành tựu công nghệ, đây chính là những sự kiện đã tạo nên câu chuyện về nước Mỹ.
Tại sao 10 sự kiện này lại quan trọng đối với lịch sử Hoa Kỳ?
Những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là các mốc thời gian. Chúng ghi lại những khoảnh khắc mà:
• đất nước được thành lập hoặc chuyển biến
• bản sắc dân tộc có sự thay đổi
• những cuộc chiến tranh lớn làm thay đổi vai trò của nước Mỹ trên trường quốc tế
• ký ức cộng đồng và văn hóa có sự chuyển biến sâu sắc
• các thế hệ tương lai tiếp nhận những quyền tự do, nỗi sợ hãi và trách nhiệm mới.
Danh sách này tập trung vào những sự kiện có tác động lâu dài đến Hoa Kỳ trên các phương diện chính trị, văn hóa, quân sự và xã hội.
1) Ngày 4 tháng 7 năm 1776 ─ Tuyên ngôn Độc lập
Tầm quan trọng: Ngày 4 tháng 7 năm 1776 là sự kiện quan trọng trong lịch sử Hoa Kỳ. Ngày này đánh dấu tuyên cáo của bản Tuyên ngôn Độc lập, khi mười ba thuộc địa chính thức tuyên bố tách khỏi Vương quốc Anh.
Quốc hội Lục địa đã thông qua nội dung cuối cùng của bản Tuyên ngôn, trong đó nêu rõ lý do các thuộc địa tách khỏi sự cai trị của Anh.
• Ngày này đánh dấu sự ra đời của Hoa Kỳ với tư cách là một quốc gia.
• Ngày này xác lập các lý tưởng về tự do, quyền tự trị và các quyền tự nhiên. Mọi người sinh ra đều bình đẳng và sở hữu những quyền bất khả xâm phạm.
• Ngày này trở thành nền tảng cho các phong trào đấu tranh mở rộng quyền tự do trong tương lai.
2.) Ngày 12 tháng 4 năm 1861 ─ Nội chiến Hoa Kỳ bùng nổ (Pháo đài Sumter)
Tầm quan trọng: Cuộc tấn công vào Pháo đài Sumter ở Nam Carolina đã khởi đầu cuộc nội chiến Hoa Kỳ ─ cuộc xung đột đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Các lực lượng thuộc Liên minh miền Nam (Confederacy) đã nổ súng vào Pháo đài Sumter ─ một pháo đài do phe Liên bang miền Bắc (Union) kiểm soát tại cảng Charleston. Cuộc pháo kích này đã châm ngòi cho một cuộc chiến tranh toàn diện giữa phe Liên bang và phe Liên minh miền Nam.
Sự kiện này đã thay đổi Hoa Kỳ, mở màn cho cuộc chiến quyết định sự tồn vong của phe Liên bang miền Bắc; làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng quốc gia xoay quanh vấn đề nô lệ, và tạo tiền đề cho công cuộc giải phóng nô lệ và những thay đổi mang tính hiến pháp.
Cuộc Nội chiến đã định hình lại quyền lực liên bang, quy chế công dân và tương lai của đất nước.
3) Ngày 1 tháng 1 năm 1863 ─ Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ có hiệu lực
Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt lớn, không chỉ đối với cuộc Nội chiến mà còn đối với đạo đức của Hoa Kỳ.
Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ của Tổng thống Abraham Lincoln chính thức có hiệu lực, tuyênbố trả tự do cho những người bị bắt làm nô lệ tại các vùng lãnh thổ do Liên minh miền Nam (Confederacy) kiểm soát.
Sự kiện quan trọng đã thay đổi ý nghĩa và mục đích của cuộc chiến:
• Biến cuộc Nội chiến thành cuộc đấu tranh vì cả sự thống nhất quốc gia lẫn quyền tự do.
• Làm giảm sự ủng hộ của châu Âu dành cho Liên minh miền Nam.
• Mở đường cho Tu chính án thứ 13, văn bản bãi bỏ chế độ nô lệ.
4) Ngày 9 tháng 4 năm 1865 ─ Quân Liên minh miền Nam đầu hàng tại Appomattox
Tướng Robert E. Lee đã ra lệnh Binh đoàn Bắc Virginia đầu hàng Tướng Ulysses S. Grant tại Tòa án Appomattox (Appomattox Court House), đánh dấu sự sụp đổ trong khả năng kháng cự quân sự của Liên minh miền Nam và đã thực sự chấm dứt cuộc Nội chiến.
Sự kiện này đã bảo toàn được Liên bang.
• Đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ tái thiết.
• Mở ra một chương mới trong cuộc đấu tranh về vấn đề chủng tộc, quyền con người và sự hàn gắn dân tộc.
5) Ngày 15 tháng 4 năm 1865 — Tổng Thống Abraham Lincoln tạ thế
Tổng thống Abraham Lincoln qua đời vào sáng hôm sau khi bị John Wilkes Booth bắn, chỉ vài ngày sau chiến thắng của phe Liên bang (Union).
Lincoln qua đời sau khi bị ám sát tại Nhà hát Ford ở Washington, D.C. Phó Tổng thống Andrew Johnson đã tuyên thệ nhậm chức Tổng thống.
Cái chết của Lincoln đã thay đổi lịch sử:
• Đất nước mất đi một nhà lãnh đạo vào thời điểm then chốt của quá trình tái thống nhất.
• Công cuộc Tái thiết (Reconstruction) diễn ra mà thiếu vắng sự lãnh đạo của Lincoln.
• Lincoln trở thành biểu tượng trường tồn của sự đoàn kết, tinh thần hy sinh và lòng dũng cảm về mặt đạo đức.
Đối với nhiều nhà sử học, đây là một trong những ngày bi thương và có ảnh hưởng lớn nhất ttrong lịch sử nước Mỹ.
6) Ngày 7 tháng 12 năm 1941 ─ Cuộc tấn công Trân Châu Cảng
Cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng đã đẩy Hoa Kỳ vào cuộc Chiến tranh Thế Giới thứ Hai.
Nhật Bản đã thực hiện một cuộc tấn công bất ngờ vào căn cứ hải quân Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng (Hawaii), khiến hơn 2.000 người Mỹ thiệt mạng, đồng thời làm hư hại hoặc phá hủy nhiều tàu chiến và máy bay.
Sự kiện này:
• Chấm dứt giai đoạn Hoa Kỳ đứng ngoài cuộc Đệ Nhị Thế Chiến.
• Dẫn đến việc chính thức tuyên chiến.
• Đánh dấu sự khởi đầu cho quá trình vươn lên của Hoa Kỳ thành một siêu cường toàn cầu.
Ngày 7 tháng 12 được ghi nhớ là "một ngày mang nỗi nhục nhã ê chề" (theo cách gọi của Tổng thống Roosevelt), và đây vẫn là một trong những ngày được biết đến nhiều nhất trong lịch sử quân sự Hoa Kỳ.
7) Ngày 6 tháng 6 năm 1944 ─ Ngày D-Day (Cuộc đổ bộ lên Normandy)
D-Day là một trong những chiến dịch quân sự quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ và thế giới.
Lực lượng Đồng minh, bao gồm hàng nghìn đơn vị quân đội Mỹ, đã đổ bộ lên các bãi biển tại Normandy (thuộc nước Pháp đang bị Đức Quốc xã chiếm đóng). Đây là cuộc đổ bộ từ biển vào đất liền lớn nhất lịch sử và quan trọng nhất trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ.
Sự kiện này
• Mở ra một mặt trận lớn ở phía Tây để chống lại Đức Quốc xã.
• Đẩy nhanh quá trình giải phóng châu Âu.
• Trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm, sự hy sinh và tinh thần hợp tác của phe Đồng minh.
8) Ngày 20 tháng 7 năm 1969 ─ Sự kiện tàu Apollo 11 đổ bộ lên Mặt Trăng
Việc đổ bộ lên Mặt Trăng là minh chứng cho thành tựu công nghệ của Hoa Kỳ, cuộc cạnh tranh trong Chiến tranh Lạnh, và là một bước tiến khổng lồ trong lịch sử nhân loại.
Các phi hành gia của tàu Apollo 11 là Neil Armstrong và Buzz Aldrin đã đổ bộ xuống Mặt Trăng, và Armstrong trở thành người đầu tiên đặt chân lên bề mặt của nó.
Sự kiện này thể hiện:
• Sự đổi mới khoa học và tham vọng quốc gia của Hoa Kỳ.
• Tượng trưng cho sự cạnh tranh và vị thế có uy tín trong kỷ nguyên chiến tranh Lạnh.
• Truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và thám hiểm.
Giờ thì có một câu hỏi dành cho bạn ─ việc đổ bộ lên Mặt Trăng là thật hay giả?
Có những lập luận cực kỳ thuyết phục cho rằng sự kiện này có thể đã được dàn dựng suốt bấy lâu nay. Bản thân tôi, với lòng yêu nước, vẫn tin vào "Giấc mơ Mỹ" và tinh thần chiến thắng của đất nước, nên tôi tin rằng sự kiện đó thực sự đã diễn ra. Tuy nhiên, cũng có những bằng chứng rất mạnh mẽ cho thấy điều ngược lại.
9) Ngày 22 tháng 11 năm 1963 — Vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy
Vụ ám sát Tổng thống Kennedy đã gây ra cú sốc lớn cho cả quốc gia và trở thành bước ngoặt trong văn hóa chính trị Mỹ.
Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát tại Dallas, Texas, khi đang ngồi trong đoàn xe diễn hành.
Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson đã tuyên thệ nhậm chức ngay trong ngày hôm đó.
Sự kiện này đã:
• Gây chấn động cả nước Mỹ và thế giới.
• Làm gia tăng sự ngờ vực trong công chúng cũng như những đồn đoán về các thuyết âm mưu.
• Đã thay đổi diện mạo chính trị và bầu không khí văn hóa của thập niên 1960.
Đối với nhiều người Mỹ, điều nây đã trở thành khoảnh khắc đáng nhớ gắn liền với câu hỏi:
"Bạn đang ở đâu vào lúc đó?"
10) Ngày 11 tháng 9 năm 2001 ─ Các cuộc tấn công khủng bố 11/9
Ngày 11 tháng 9 năm 2001 là một trong những cột mốc có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử hiện đại của Hoa Kỳ.
Những kẻ khủng bố đã cố gắng cướp bốn chiếc máy bay thương mại và buộc hai chiếc đâm vào tòa tháp Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York, một chiếc đâm vào Lầu Năm Góc, và chiếc còn lại rơi xuống Pennsylvania sau khi các hành khách chống trả.
Sự kiện 11/9 đã:
• Thay đổi chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.
• Dẫn đến các cuộc chiến tranh tại Afghanistan và Iraq.
• Làm thay đổi các hoạt động bằng đường hàng không, các công tác giám sát an ninh, và đời sống xã hội.
• Trở thành ký ức mang khoảnh khắc quyết định, định hình đối với cả một thế hệ.
Ngày 11 tháng 9 vẫn là một trong những ngày được tìm kiếm và ghi nhớ nhiều nhất trong lịch sử đương đại của Hoa Kỳ.
B- Những mốc thời gian đáng chú ý khác trong lịch sử Hoa Kỳ
Những mốc thời gian sau đây cũng nằm trong danh sách các sự kiện quan trọng nhất:
• Ngày 17 tháng 9 năm 1787 ─ Ký kết Hiến pháp Hoa Kỳ
• Ngày 15 tháng 12 năm 1791 ─ Phê chuẩn Tuyên ngôn Nhân quyền (Bill of Rights)
• Giai đoạn 1803-1804 ─ Thời kỳ mở rộng lãnh thổ thông qua Thương vụ Louisiana
• Ngày 01 tháng 1 năm 1863 ─ Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ (đã được đưa vào danh sách chính)
• Ngày 18 tháng 8 năm 1920 ─ Phê chuẩn Tu chính án thứ 19 (quyền bầu cử của phụ nữ)
• Ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945 ─ Các vụ ném bom nguyên tử (bước ngoặt lớn trong thời chiến của Hoa Kỳ)
• Ngày 28 tháng 8 năm 1963 ─ Cuộc Tuần hành vì Việc làm và Tự do tại Washington
• Ngày 2 tháng 7 năm 1964 ─ Ký kết Đạo luật Quyền Dân sự
Đây là một lý do khiến lịch sử Hoa Kỳ luôn có đầy sức thu hút ─ có rất nhiều khoảnh khắc thời gian mang ý nghĩa quan trọng lâu dài. Không có một danh sách hoàn hảo duy nhất nào cả.
Một số người ưu tiên các sự kiện như:
• Những văn bản nền tảng quốc gia
• Những cuộc chiến tranh và trận đánh
• Những cột mốc về quyền dân sự
• Những vụ ám sát Tổng thống
• Những thành tựu khoa học
• Những khoảnh khắc bi kịch quốc gia
Nói một cách thuyết phục là: "Những mốc thời gian quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ là những ngày mà bản sắc định hướng hoặc vận mệnh của nước Mỹ đã thay đổi theo hướng lâu dài."
Điều này bao gồm cả những thắng lợi, bước đột phá, thất bại và tổn thất.
Lời kết: Tại sao những mốc thời gian này trong lịch sử Hoa Kỳ vẫn quan trọng? Vì chúng giúp chúng ta hiểu rõ:
• quốc gia này đã được xây dựng như thế nào
• đã trải qua những thử thách gì
• những lý tưởng mà họ đề cao
• những thành tựu đã đạt được
• những điểm còn hạn chế
• và hình mẫu quốc gia mà người dân vẫn đang nỗ lực hướng tới
Nếu bạn đang tìm hiểu lịch sử Hoa Kỳ qua lăng kính "nhìn lại sự kiện trong ngày", thì những sự kiện này là những điểm quan trọng và mở ra cánh cửa dẫn đến những câu chuyện sâu sắc hơn.
Sưu Tầm & Dịch: Thái Lan Cùng Với AI
Nguồn:
Top 10 Most Important Dates in U.S. History (And Why They Still Matter) - Chronicles of History
LỄ ĐỘC LẬP 250 NĂM DỰNG NƯỚC HOA KỲ VÀ BẢN HÙNG CA HAI NỬA BÁN CẦU ─ GEORGE WASHINGTON VÀ VUA QUANG TRUNG CÙNG “VƯỢT SÔNG” XOAY CHUYỂN VẬN MỆNH QUỐC GIA!
Hai trăm năm mươi năm rực lửa Tự Do. Tháng Bảy về mang theo cái nóng cháy da của mùa hè nước Mỹ, nhưng có một ngọn lửa còn cháy bỏng hơn thế, đang bùng lên mạnh mẽ trong hàng triệu trái tim khắp mọi miền của 50 Tiểu bang. Đó là ngọn lửa của Ngày Lễ Độc Lập ─ 4 Tháng 7. Năm nay, ngọn lửa ấy có một tầm vóc lịch sử vô tiền khoáng hậu ─ Lễ Kỷ Niệm 250 Năm Lập Quốc Hoa Kỳ!
Một phần tư thiên niên kỷ đã trôi qua kể từ khi tiếng Chuông Tự Do vang lên tại Philadelphia, lay chuyển toàn cầu và khai sinh ra một quốc gia với những điều kỳ diệu. Hai trăm năm mươi năm, một hành trình lâu dài và hiển hách; được dệt bằng máu, nước mắt, ý chí sắt đá, và khát vọng tự do cháy bỏng của bao thế hệ.
Hôm nay, bầu trời nước Mỹ sẽ được thắp sáng bởi hàng triệu đóa hoa lửa rực rỡ, được đốt lên từ tinh thần yêu nước bất diệt, là một biểu tượng tự do trường tồn từ những thế hệ cha ông.
Nhìn lại lịch sử của quốc gia 250 tuổi Hoa Kỳ từ những nền móng đầu tiên ─ năm 1776. Tất cả bắt đầu từ 13 thuộc địa sơ khai, nơi những con người quả cảm không chịu cúi đầu trước ách thống trị của Vương quốc Anh. Ngày 4 tháng 7 năm 1776, Bản Tuyên Ngôn Độc Lập bất hủ chính thức khai sinh ra Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ dựa trên nền tảng thiêng liêng ─ đó là quyền sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Nhưng lúc đó, ở Thế kỷ XVIII, con thuyền nước Mỹ vừa nhổ neo ra khơi đã phải vượt qua những thác ghềnh khốc liệt. May mắn thay, những bậc tiền bối lập quốc của Hoa Kỳ chính là những “kiến trúc sư” tài năng tột bực của tự do. Cuộc Nội chiến 1861-1865 tuy đau thương nhưng đã xóa bỏ xiềng xích nô lệ, hàn gắn vết thương chia rẽ, và khẳng định một quốc gia thống nhất và vững bền. Đó cũng là cuộc mở rộng bờ cõi về miền Tây hoang dã, tạo nên một lãnh thổ bao la từ bờ Đại Tây Dương sang bờ Thái Bình Dương.
Hoa Kỳ đã vươn mình thành siêu cường thế giới từ Thế kỷ XX. Bước qua hai cuộc Thế chiến khốc liệt, Hoa Kỳ trở nên thành trì bảo vệ nền dân chủ toàn cầu và đã bứt phá ngoạn mục về kinh tế, khoa học, và công nghệ. Từ bước chân đầu tiên của con người trên mặt trăng đến cuộc cách mạng kỹ thuật số (digital), Mỹ khẳng định vị trí siêu cường không thể lay chuyển. Đằng sau thiên anh hùng ca uy dũng đó là tầm vóc của trí tuệ kiệt xuất. Những “khai quốc công thần” của nước Mỹ đã dám đặt cược cả mạng sống vào một ý tưởng điên rồ lúc bấy giờ ─ đó là, tạo nên một đất nước của dân, do dân, và vì dân.
George Washington ─ “Cha già dân tộc”, là Tổng tư lệnh quân đội toàn Lục địa, người đã lãnh đạo trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất để giành lấy độc lập. Ông là biểu tượng của sự hy sinh và lòng chính trực, là người đầu tiên từ bỏ quyền lực để đặt nền móng cho nền dân chủ bền vững.
Nhưng lịch sử không phải là một con đường trải đầy hoa hồng. Để hiểu vì sao ngọn đuốc tự do
lại có thể rực cháy suốt 250 năm, chúng ta phải nhìn vào khúc quanh sinh tử khốc liệt nhất của nước Mỹ.
Đó là đêm Giáng sinh năm 1776. Lúc bấy giờ, cuộc Cách Mạng Mỹ đang đứng bên bờ vực phá sản. Đội quân Lục địa của Tướng George Washington rách rưới, đói khát, thiếu hụt từ manh áo đến đôi giày. Giữa cái lạnh thấu xương của mùa đông Valley Forge, máu từ những bàn chân trần của người lính Mỹ đã nhuộm đỏ cả tuyết trắng. Ai cũng nghĩ rằng quốc gia non trẻ này sẽ nhanh chóng bị chôn vùi.
Nhưng lịch sử luôn dành chỗ cho những kẻ quả cảm nhất. Vào đêm định mệnh ngày 25 tháng 12 năm 1776, khi đối phương đang say sưa tiệc tùng Giáng Sinh, Washington đã đưa ra một quyết định táo bạo bậc nhất lịch sử quân sự ─ vượt sông Delaware.
Trên một dòng sông ngập ngụa những tảng băng trôi, gió tuyết gầm rú quật thẳng vào mặt, trên những chiếc thuyền gỗ chông chênh, đoàn quân của Washington lầm lũi tiến vào màn đêm vì khát vọng tự do cháy bỏng trong lồng ngực. Cuộc tập kích bất ngờ vào thị trấn Trenton ngay sau đó đã thành công vang dội; thổi bùng lên ngọn lửa hy vọng đã nguội lạnh; chứng minh cho cả thế giới thấy sức mạnh của một dân tộc chiến đấu vì tự do!
Đọc lại chiến công hiển hách này của nước Mỹ, tôi rúng động bàng hoàng! Chợt nhớ ra, trong lịch sử của quê hương tôi cũng từng có một chiến thắng đầy cuồng phong và sấm sét như thế. Và quả thật, khi lật lại những trang sử vàng của dân tộc Việt, tôi đã tìm ra cách mà nước Mỹ non trẻ nửa vòng trái đất đã làm. Cũng có một dân tộc kiên cường đã từng viết nên một phép màu y hệt. Một sự trùng hợp đến thần kỳ. Hành động vượt sông băng giá của George Washington vào năm 1776 chính là “tấm gương phản chiếu” của cuộc vượt sông Đáy thần tốc do Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ lãnh đạo năm 1789 tại nước Việt!
Cả hai thiên tài quân sự đã có cùng một tư tưởng lớn. Đó là tốc độ, bất ngờ, và chọn thời điểm mà kẻ thù sơ hở nhất. Ý tưởng và hoàn cảnh giống hệt! Đêm vượt sông Delaware của Washington là một bức tranh sơn dầu lấp lánh băng giá trong đêm Giáng Sinh, thì đêm vượt sông Đáy của vua Quang Trung là một bức họa cuồng phong rực lửa.
Đêm 30 Tết Kỷ Dậu, khi quân xâm lược Mãn Thanh, dưới sự chỉ huy của Tôn Sĩ Nghị, còn đang mải mê ca hát, tiệc tùng ăn Tết cổ truyền; đinh ninh rằng quân ta ra Giêng mới dám đánh, thì trên dòng sông Đáy (đồn Gián Khẩu), hàng vạn chiến binh Tây Sơn đã lặng lẽ vượt sông.
Im lìm không tiếng động, trong đêm đen không một ánh lửa, quân Tây Sơn thần tốc vây chặt và bắt gọn toàn bộ toán quân do thám của địch, khiến hệ thống phòng thủ của quân Thanh hoàn toàn bị “mù mịt thông tin” ngay từ phát súng đầu tiên. Sự phong tỏa tình báo tài tình này đã mở đường cho cuộc hành quân chớp nhoáng vô tiền khoáng hậu để làm nên trận đại thắng Ngọc
Hồi - Đống Đa kinh thiên động địa.
Đến mùng 5 Tết, cả thành Thăng Long rung chuyển trong khói lửa ngút trời, Tôn Sĩ Nghị khiếp sợ đến vỡ mật, không kịp đóng yên ngựa, vứt bỏ ấn tín mà tháo chạy qua sông Hồng. Thây giặc Tàu tầng tầng lớp lớp làm nghẽn cả dòng nước.
Tìm được những thông tin này, tôi xúc động gần như nghẹt thở. Phải kiếm thêm bằng chứng thuyết phục hơn để tôi có thể “khoe” với những người bạn Mỹ trong Hội Cựu Chiến Binh Không Quân Hoa Kỳ Tan Son Nhut Association (TSNA)” mà mấy chục năm nay chúng tôi vẫn thường chia sẻ cho nhau những thông tin, những bài viết về quê hương Việt Nam bằng tiếng Anh.
Trận Đống Đa oai hùng ấy tôi vốn đã nghe kể và đã được học từ thuở ấu thơ. Để tìm kiếm những nguồn tài liệu độc lập, những bằng chứng đanh thép nhất bằng tiếng Anh, tôi đã trải qua nhiều giờ tìm kiếm và “mò” vào hệ thống lưu trữ cổ thư trực tuyến HOLLIS (Harvard Online Library Information System) của Đại học Harvard danh tiếng.
Thư Viện Harvard thông tin dày đặc như rừng rậm. Cái khoảnh khắc copy cụm từ chữ Hán theo cách “anh Gút” chỉ dẫn, “欽定安南紀事” (Khâm Định An Nam Kỷ Sự ─ cũng nhờ anh Gút dịch. Xin nói rõ kẻo những nhà Hán học uyên thâm lại mắng cho rằng tôi sao dám múa rìu qua mắt thợ.) rồi thảy cụm từ này vào tìm kiếm. Thì nó hiện lên nguyên bản ngập tràn những dòng chữ Hán tượng hình từ thế kỷ XVIII. Tim tôi bỗng đập liên hồi như một kẻ vừa tìm ra kho báu bị chôn giấu.
Tôi lập tức dùng công cụ Google dịch trên iPhone rọi vào; hồi hộp xem từng ký tự vuông vức, cổ kính ấy được chuyển sang tiếng Việt. Và rồi, tôi bị choáng ngợp, nổi da gà, dựng chân lông, lẫn ngạc nhiên tột độ và thích thú vô bờ! Tôi sững sờ, xúc động đến phát khóc vì sự khám phá này.
Hiện ra trước mắt tôi là những dòng sớ tấu ngày xưa, rõ mồn một như những hàng chữ Hán tôi thường thấy trong phim Tàu. Dịch ra tiếng Việt là những lời thú nhận nghe như run rẩy, nghe như kinh hoàng của chính Sử quan triều đình nhà Thanh ghi chép lại.
Vì là Chiếu Chỉ triều đình phong kiến nên sách đọc theo lối từ phải sang trái và từ trên xuống dưới. Những bản văn này ghi đầy đủ các Sắc Dụ của Hoàng đế Càn Long ban xuống cho Tôn Sĩ Nghị, Phúc Khang An, cùng các tấu sớ của tướng lĩnh báo cáo tình hình chiến sự kinh hoàng khi bị quân Tây Sơn quét sạch...
Lưới trời lồng lộng, sử giặc rành rành, những kẻ xâm lượt đã tình cờ để lại những bằng chứng nhục nhã cho thế giới đọc! Qua lăng kính dịch thuật từ những bản văn lưu giữ tại Harvard, sự thật ngày xưa đã hiện ra mồn một. Sử sách quân Thanh thừa nhận đã bị quân dân Việt đánh cho tan tác, chết sạch ở các đồn tiền tiêu ven sông Đáy, không một tên nào kịp chạy về báo tin, dồn đại quân Thanh ở Thăng Long vào thế bất lực hoàn toàn trước trận tấn công bão lửa của vua Quang Trung.
Ngồi trước màn hình máy tính, nhìn con dấu đỏ hoàng gia của Hoàng đế Càn Long trên trang sách cổ của Harvard, mà trước nay tôi chỉ thấy qua phim ảnh, lòng tôi dâng lên một niềm xúc động và tự hào dân tộc mãnh liệt. Thì ra, chân lý và niềm kiêu hãnh của người Việt chưa bao giờ phai nhạt, nó vẫn nằm trang trọng ở đó, giữa trung tâm tri thức của thế giới, chờ chúng ta mở ra xem! Quả là hồn thiêng sông núi nước Nam đã dành cho con cháu đời sau một bất ngờ quá lớn.
Năm tháng sẽ trôi qua, lớp bụi thời gian có thể làm mờ đi nhiều thứ, nhưng ký ức về những đêm vượt sông định mệnh của Tướng George Washington và Hoàng đế Quang Trung sẽ mãi là những mốc son chói lọi trong lịch sử nhân loại.
Hai trăm năm mươi năm nước Mỹ nhìn lại chặng đường lập quốc đầy huyền thoại kiêu hùng; cũng là lúc chúng ta, những người con mang trong mình dòng máu Việt, nghiêng mình trân kính trước hào khí sấm sét của cha ông.
Cho nên, tự do không bao giờ là một món quà sẵn có. Dù ở bờ bên kia của đại dương hay trên mảnh đất hình chữ S thân thương, sự khát vọng về tự do và độc lập vẫn luôn luôn là một.
Khi tiếng pháo hoa rực rỡ thắp sáng bầu trời đêm Lễ Độc Lập ─ 4 tháng 7 ở Hoa Kỳ năm nay, người Việt chúng ta hãy để những tâm hồn đồng điệu cùng hòa chung một nhịp đập. Hãy kiêu hãnh mang theo ngọn lửa rực cháy từ quá khứ để sưởi ấm cho hiện tại và soi đường cho tương lai.
Miễn là thế giới này còn những con người biết trân trọng giá trị của độc lập, thì bản hùng ca vượt sông của những thiên tài kiệt xuất ngày xưa ấy sẽ còn vang vọng mãi đến muôn đời sau…
Phương Hoa
Nguồn tài liệu tham khảo:
*Trang web chính thức của Di tích Lịch sử Mount Vernon (George Washington's Mount Vernon):mountvernon.org
*Viện Lưu Trữ Quốc Gia Hoa Kỳ (The U.S. National Archives): archives.gov
*Sách Việt Nam Sử Lược - Tác giả Trần Trọng Kim (bản in của Nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn) Trong Chương XI (Nhà Tây Sơn), học giả Trần Trọng Kim mô tả rất kỹ trận đại phá quân Thanh, việc vua Quang Trung ước hẹn với quân sĩ ăn Tết trước, rồi đúng đêm giao thừa (30 Tết) hạ đồn Gián Khẩu (sông Đáy) khiến quân Thanh không kịp trở tay.
*Bộ sử liệu Khâm Định An Nam Kỷ Sự (欽定安南紀事), Quyển 1-30, bản in cổ của thế kỷ XVIII, hiện đang được lưu trữ trang trọng tại Thư viện Yên Kinh Harvard (Harvard-Yenching Library) thuộc Đại học Harvard, Hoa Kỳ: https://library.harvard.edu/
https://library.harvard.edu/services-tools/hollis-catalog 欽定安南紀事
|
Ở ĐÓ MÀ LƯỢN LỜ Chính sách ngoại giao cây tre Tre nào tre nấy đỏ loè Kiến ruồi trợt sơn xúm té Đảng hè nhau ngủ, im re!
Mỹ quốc ngoại giao cây… xăng Cây nào cây nấy thẳng băng Đánh đâu “đế quốc” cũng thắng Tre đỏ cỡ nào cũng oằn! Ý Nga, 1.7.2026. |
LAO NÔ VÀ DU HỌC SINH ĐẮT ĐỎ (Trích tuyển tập BIẾM THI & NÓI LÁI.) * Chắc chắn con cháu chọc cho chúng chửi Đâu rồi rầu đôi* đoạn đời đã đau? Rất rõ ràng rằng đông đảo đến đâu Lấp liếm lỗi lầm: đã đời đắt… Đỏ! Ý Nga, 1.7.2026 *Nói lái: đâu rồi/rầu đôi
CẢNH GIÁC VC NẰM VÙNG (Trích tuyển tập BIẾM THI & NÓI LÁI)
Tin thu thập đưa đi đâu cung cấp: Từ tiến trình theo thỏa thuận chịu… chơi Tuổi dậy thì: thầy dị* tuổi? Lả lơi! Nó nuôi nấng thông tin đủ để… được! Ý Nga, 1.7.2026 *Nói lái: dậy thì/thầy dị. |
CÁCH SỬ DỤNG CÁC DẤU TRONG TIẾNG VIỆT
Đã mang tiếng “sĩ” dương trần *
Văn thơ thích viết, nhiều lần cho xem
Lời vàng, ý ngọc – đáng khen
Niêm từ theo luật, càng xem – hài lòng!
Nguyễn Phương Thúy
* văn, thi sĩ
Editor: chủ bút / biên tập viên – Người sửa lỗi chính tả; chỉnh sửa câu cú, cấu trúc bài viết; tóm gọn cho hay hơn; v.v.
https://nguyenpthuy.jigsy.com/Stories
Nếu các bạn có ý kiến, muốn bổ túc thì email cho PThuy.

